Thứ Ba, 11 tháng 6, 2019

KỶ NIỆM VỚI NGHĨA TRANG QĐ BIÊN HÒA

KỶ NIỆM VỚI
NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI BIÊN HOÀ


Đến chiều ngày 29-4-75, khoảng trời vừa tắt nắng, tôi còn đứng trên đồi Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà với nỗi buồn vô hạn, nhìn xe cộ và dòng người tất tả, cùng di chuyển về hướng Sài Gòn. Trên gương mặt mọi người hiện rõ nét hốc hác, mệt mỏi vì đường xa và sợ hải, họ như cố chạy càng xa càng tốt, mong sao thoát khỏi làn sóng đỏ đang vồ dập phía sau lưng… Lòng tôi cũng nôn nã lắm, biết VNCH đã đến ngày tàn, không còn phương thuốc nào có thể cứu chữa được, nhưng tôi nghĩ trách nhiệm và lương tâm của người Cảnh Sát, nên tuân lệnh cấp chỉ huy trực tiếp, thi hành nhiệm vụ đến giờ phút cuối cùng. Tôi đi vòng xuống phía trước tượng Tiếc Thương, thấy gương mặt và dáng dấp người lính chiến ngồi trên bục đá với khẩu súng trường gác ngang trên đùi (do điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu tạc theo mẫu người anh Võ văn Hai, một hạ sĩ binh chủng Nhảy Dù), sao mà buồn quá đỗi, tôi ngắm tượng Tiếc Thương, rồi nhìn những dãy mồ tử sĩ sơn màu tang trắng, nằm ngang dọc thẳng hàng trên đồi Nghĩa Trang, mà cảm thấy nỗi buồn vương vấn, xót thương vô cùng cho thân phận người lính chiến VNCH. Tôi ngẳm lại thân phận mình và thầm nghĩ, chắc cũng đến lúc phải chia tay với anh lính tượng Tiếc Thương nầy rồi. Tôi chào anh và lẩm bẩm mấy câu:
                        Thôi chào anh nhé tôi đi
                        Gặp nhau.. Xin hẹn tháng ngày bình yên
                        Ba năm chung một nỗi niềm
                        Ngùi thương tử sĩ về yên chốn nầy
                        Hồn anh phảng phất đâu đây
                        Vi vu gió lộng hàng cây bạch đàn
                        Con đường dẫn vào nghĩa trang
                        Nghe sao lạnh lẽo bàng hoàng xót xa.

                        Chào anh lần chót… gọi là…
                        Mai sau biết có về qua lối nầy.

Coi như tôi đã làm xong bổn phận của một người Cảnh Sát được thượng cấp cử về làm Trưởng Cuộc Xã Bình An, lo việc an ninh trật tự từ 1973 đến 30-4-1975. Trong khu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà không một nơi nào mà tôi chẳng đi qua, tới lui nhiều lần, nhất là những lần Quân Lực VNCH có một vì SAO rụng hoặc khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đến dự lễ ngày Chiến Sĩ Trận Vong tại Đài Tử Sĩ trên đồi Nghĩa Trang. Việc an ninh trật tự từ ngoài xa lộ vào cổng Nghĩa Trang và chung quanh Nghĩa Trang là trách nhiệm của Cuộc Cảnh Sát Xã Bình An thuộc quận Dĩ An tỉnh Biên Hoà.
Trong những lần vào nghĩa trang, thỉnh thoảng, tôi chứng kiến cảnh trực thăng chở xác binh sĩ tử trận từ các chiến trường sôi động về, từng chiếc poncho gói xác binh sĩ được khiêng vào hiên nhà, phía sau phòng ướp xác, một toán thanh niên khoảng bốn năm người, thường trực làm phận sự, xịt nước tắm rửa các thi thể cho sạch các vết thương, vết máu, trước khi cho vào các hộc ướp lạnh chờ thân nhân đến nhận diện, làm thủ tục nhận xác hoặc đem về mai táng ở quê nhà hoặc chôn tại nghĩa trang nầy. Họ làm công việc rất tự nhiên, không sợ sệt, gớm ghê gì cả, họ không dùng khẩu trang, cũng không thoa dầu…dường như họ đã quen rồi với cái mùi tử khí … Tôi rất cảm  phục những thanh niên lo phần hậu sự nầy.
Tôi nhớ có lần đi ngang qua nghĩa trang, gặp một vị sĩ quan thuộc Đại Đội Chung Sự, vị nầy hỏi tôi ‘Sao tôi thấy Trung Uý cứ ra vô đây hoài vậy ?’. Tôi cười nhạt và trả lời rằng ‘vì có nhiều thân nhân và bè bạn nằm đây nên phải đến thăm viếng hoài thôi’. Sự thật thì, mỗi khi có nhu cầu công tác an ninh trật tự tại khu vực gần Vườn Ương ấp Bình Thắng, tôi thường chọn con đường tắt, từ ngã ba cầu Cầu Bà Lồ chạy qua phía trước hãng giấy Mê Kông vào cổng sau Đại Đội Chung Sự, rồi băng ngang Nghĩa Trang, đến ấp Bình Thắng thay vì phải chạy vòng, xa hơn và tốn nhiều thì giờ. Và có một lần khác tôi gặp một vị hạ sĩ quan khác cũng đặt câu hỏi tương tự, tôi lại trả lời ‘ Vào đây coi ô đất nào đẹp để xí phần’ và được viên hạ sĩ quan nầy vừa cười vừa nói ‘Nghĩa Trang nầy không có tiêu chuẩn dành cho Trung úy đâu’. Tôi cười. Sự thật đúng vậy thôi, mặc dù tôi cũng là mộ cựu quân nhân có số quân 57 A.172035.
Đối với Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà tôi có rất nhiều kỷ niệm và còn được nghe nhiều huyền thoại về anh lính ‘ Tượng Tiếc Thương’.
Nhiều người đến viếng thăm Nghĩa Trang QĐBH đều nói ‘Nhìn anh lính ‘Tượng tiếc Thương’ sao mà buồn quá, nhưng theo tôi, thì ‘ Tượng Tiếc Thương’ không gợi buồn bằng bức hoạ cảnh ‘ Tượng Tiếc Thương’ với hai màu xanh xám nhạt, treo trên tường trong một văn phòng chung sự, có lần tôi ngắm bức tranh, rồi quay ra nhìn một số đông người thuộc nhiều lứa tuổi, phần đông là phụ nữ và trẻ con, đứng cạnh dãy quan tài được phủ những lá cờ vàng, cùng lúc ngửi mùi nhang khói, tự nhiên tôi thấy lòng mình chùng xuống, buồn không thể tả, rồi bỗng nhớ mấy câu thơ của Lê Thị Ý, mà cảm thấy xót thương cho những người phụ nữ Việt Nam trong thời binh lửa…
                        ‘Ngày mai đi nhận xác chồng
                        Say đi để tưởng mình không là mình
                        …
                        Bây giờ anh phủ cờ vàng
                        Anh lên lon giữa hai hàng nến trong
                        Mùi hương cứ ngỡ hơi chồng
                        Ôm mồ cứ tưởng ôm vòng người yêu !’

 Mời các bạn đọc thêm bài thơ sau đầy, để có được giây phút cảm thông nỗi buồn thắm thía của tôi…

                        Chiều Nghĩa Trang

                        Hôm qua chiến địa còn oanh liệt
                        Súng đạn rền vang giết kẻ thù
                        Đến sáng hôm nay im lặng tiếng
                        Người về lòng đất biệt thiên thu.

                        Quan tài một dãy chiều sương lạnh
                        Những lá cờ vàng được phủ lên
                        Những tấm huy chương, bằng tưởng lục
                        Nhạt nhoà màu sắc khói nhang buồn.

                        Tiếng kèn đưa tiễn sang biên giới
Giữa chốn nghĩa trang lạnh đất trời
Cây cỏ úa vàng quanh mộ vắng
Vợ buồn con thét… lệ tuôn rơi.

Tiếc Thương’ tượng lính, buồn thương tiếc
Trước Cổng Tam Quan đón bạn về
Hồn nước vấn vương Đền Tử Sĩ
Dũng Đài Nghĩa Khí ánh gươm soi.

Vành Khăn Tang trắng còn vương lệ
Áo trắng tang chồng cảnh cúc côi
Con khóc thương cha đền nợ nước
Lão bà sùi sụt tiếc thương đời…
                                                (TN)

                       
Sau ngày 30-4-75 tôi không còn có dịp ghé thăm khu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà nữa, vì bị đi tù cải tạo, rồi khi ra khỏi tù, lại bận rộn sinh kế, phụ vợ con kiếm sống qua ngày, kế có cơ hội đi HO qua đinh cư tại Mỹ vào năm 1991 đến nay.
Sau nầy tôi đọc báo và được biết có một số người về thăm Việt Nam có viếng Nghĩa Trang QĐBH. Họ mô tả nơi nầy đã bị đào phá tan hoang và do một đơn vị bộ đội thuộc Quân Khu 7 quản lý, không cho bất cứ ai vào thăm viếng. Tượng ‘Tiếc Thương’ bị giật ngả xuống đất vào những ngày đầu tháng 5-75 trong tư thế , đầu hướng về Sài Gòn, chân chỏng về hướng Bắc, một cánh tay bị gảy lìa ra  và cho kéo đi nơi khác (nghe nói kéo bỏ tại một khoảng đất trống phía bên trái cầu Xa Lộ Đồng Nai, khoảng đất trống cận bờ sông, nơi có một Đại Đội Công Binh VNCH trú đóng trước ngày 30-4-75, và sau đó được kéo bỏ tại một khoảng đất trống khác trong phạm vi Quận Dĩ An), hiện không biết tượng nầy kéo bỏ nơi đâu, chỉ còn lại cái bục, thế mà vẫn có một số người đến đốt nhang chiêm bái, họ cho rằng tượng Tiếc Thương linh thiêng. Số người đến đốt nhang thường có ba dạng, một dạng mê tín, lễ bái cầu xin nọ kia,  một dạng có cảm tình với chế độ cũ và một dạng là thân nhân của tử sĩ VNCH, đến đốt nhang để đỡ nhớ thương những người thân của họ đã chết rồi mà còn bị cầm tù, không ai được vào bên trong để cúng kiếng. Sau nầy chánh quyền địa phương cho đập phá luôn cái bục còn lại để cho không còn dấu tích gì liên quan đến tượng ‘Tiếc Thương’.
Đến ngày 30-4-75 đã có đến 16.000 tử sĩ về an giấc nghìn thu tại nghĩa trang nầy, trong số có cố Đại Tướng Đỗ Cao trí, Tư Lệnh Quân Đoàn 3 kiêm Vùng 3 Chiến Thuật….Dân chúng cư ngụ quanh khu NTQĐBH đặt thêm cho nghĩa trang nầy một cái tên rất khôi hài, đó là Vùng 5 Chiến Thuật, những quân nhân được thuyên chuyển về đây sẽ ngàn năm im tiếng.
Nghĩa Trang Quân Đội được thiết lập vào khoảng năm 1965 trên một ngọn đồi không cao lắm, tiếp giáp các bờ ruộng tư nhân, lò gạch của Bà Hai Đợi và ông Năm Thường về phía Bắc, phía Nam tiếp giáp các khu vườn cây trái và nhà dân, phía Đông tiếp giáp xa lộ Biên Hoà Sài Gòn và phía Tây giáp với một số vườn cây ăn trái và khu hầm đất đỏ. Đài Tử Sĩ được xây trên đỉnh đồi, khu đất bên phải là phần mộ các vì Tướng, phía sau là một khu đất rộng, được phân chia thành từng ô như lưới nhện, mỗi ô là những hàng bia trắng ngay hàng thẳng lối, góc sau bên phải là văn phòng Đại Đội Chung Sự, phía trước là một con đường trán nhựa khoảng chừng non một trăm thước, hai bên có trồng hai hàng cây khuynh diệp, thông ra xa lộ Biên Hoà-Sài Gòn và nơi đầu ngỏ vào,  cận xa lộ có một tượng lính ‘Tiếc Thương’ đặt trên một cái bục cao, anh lính trong thế ngồi nghỉ với khẩu súng trường gác trên đùi và mắt lơ đãng nhìn thẳng hướng đồi Bác sĩ Tín và Hoả Táng Đài, nằm phía bên kia Xa lộ, đối diện nghĩa trang. Ngoài ra, tại trung tâm khu Nghĩa Trang còn có một đỉnh đài cao có tên là NGHĨA DŨNG ĐÀI gồm một trụ bê tông chính cao hơn bốn mươi thước hình một thanh gươm có bốn chân trụ chịu trên bục xi măng bê tông cốt sắt hình tròn có tên là Vành Khăn Tang, vòng cung dài trên bốn mươi thước do một đơn vi Công Binh Kiến Tạo (đại đội 541 ?) xây dựng dự trù hoàn tất trước ngày 19-6-1975, trông thật ngạo nghể uy nghiêm trên vùng mộ địa đượm buồn.

Sau nầy tôi có dịp đọc bài viết của anh Lê Đồng một sĩ quan thuộc Đại Đội Công Binh Kiến Tạo, đăng trên tờ bán nguyệt san Chicago Việt Báo số 84 trang 136, cho biết hiện chính quyền dịa phương đã xây một nhà máy lọc nước Thuận An, án ngữ ngay bên phải cổng Tam Quan, nơi con đường chính hướng đến Nghĩa Dũng Đài. Viết đến đây tôi thoạt nhớ và đoán chắc anh Lê Dồng còn nhớ tôi(?), có một lần tôi can thiệp theo sự yêu cầu của Đại Đội Công Binh Kiến Tạo 451( ?)và anh Trưởng Cuộc Cảnh Sát Long Bình, tôi vào gặp cha xứ làng Cao Thái để xin cho một chiếc xe ủi đất và một xe tải GMC đang công tác ủi đất  trên phần đất xã Bình An do tôi trách nhiệm, bị dân quân làng Cao Thái cưỡng bách bắt đem về đậu trước nhà thờ làng Cao Thái thuộc xã Long Bình( Thủ Đức Gia Định) với một lý do rất khôi hài ‘Chúng tôi từ Bắc di cư vào Nam, mấy ông phải để khu đất nầy(khu đất dối diện Nghĩa trang Quân Đội Biên Hoà) không cần biết của ai, để cho chúng tôi canh tác’. Ông cha xứ nói rằng, việc nầy do các con chiên chủ động và yêu cầu tôi trực tiếp giải quyết với các con chiên, tôi trong tư thế lỡ leo lên lưng cọp, rất phập phòng lo sợ, sợ giải quyết không xong, chiếc xe jeep Cảnh Sát tôi đang sử dụng, bị đốt luôn, thì coi như đại nạn đến với tôi… Tôi cố giữ bình tỉnh, với sự ủng hộ của các anh quân nhân Công Binh, Trưởng Cuộc Long Bình và một nhân viên Quân Cảnh quận Dĩ An. Các người trong họ đạo làng Cao Thái đã vào đầy phòng họp, trong bầu không khí rất là căng thẳng, tôi được mời lên bàn ‘chủ toạ’ để được nghe chất vấn, ông Trùm mang loa phóng thanh, nêu lên nhiều câu hỏi và sau cùng bảo tôi hứa và cam kết để phần đất phía bên kia Xa Lộ ngang Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà cho dân làng Cao Thái canh tác. Đến lượt tôi trình bày, tôi xin hỏi ông Trùm và quí vị trong họ đạo làng Cao Thái rằng nếu nhà cửa của quí vị, tài sản của quí vị bị tôi tước đoạt và cho người khác sử dụng, quí vị có bằng lòng không? Nếu quí vị trả lời bằng lòng, thì tôi sẽ ký giấy cam kết, tôi biết làm như vậy là phạm pháp, tôi sẽ bị ở tù, nhưng tôi sẽ ký… Tôi nhìn quanh phòng họp, thấy mọi người kể cả ông Trùm đều im lặng, không ai trả lời câu hỏi của tôi. Thế là tôi kết luận,  quí vị đã buộc tôi làm điều sai trái, ngoài phạm vi và quyền hạn của tôi,  làm sao tôi có thể viết lời cam kết theo ý quí vị được. Tôi mong quí vị thông cảm cho địa vị nhỏ bé của tôi.  Tôi đến đây với mục đích yêu cầu quí vị thả các quân nhân và trả các quân xa về cho Đại Đội Công Binh (Kiến Tạo 541 ?) đồn trú tại đầu cầu Xa Lộ Biên Hoà thuộc ấp Ngãi Thắng/ Xã Bình An, Chúng ta đang sống trong một xã hội có luật pháp, nên để cho luật pháp giải quyết mọi vấn đề. Nguyện vọng của quí vị, tôi sẽ phúc trình, đạo đạt lên chánh quyền cấp tỉnh để nơi đây thẩm quyền giải quyết…Tôi chào ra về trong sự im lặng đồng tình cho phép của mọi người trong họ đạo làng Cao Thái. Tôi mừng quá, thở phào nhẹ nhõm như vừa trút được gánh nặng ngàn cân ra khỏi người. Trên đường ra Xa Lộ tôi mở máy liên lạc và được biết Bộ Chỉ Huy Tỉnh Biên Hoà đã cho tăng cường ngay hai trung đội CSDC ứng chiến tại Nghĩa trang Quân Đội Biên Hoà chờ yểm trợ tôi khi cần… Đến sáng hôm sau, trong khi tôi đang ngồi trong hội trường BCH Cảnh Sát Khu 3 cùng tất cả Trưởng Cuộc Cảnh Sát toàn Vùng 3 về họp, để chờ nghe ông Biện Lý Phạm Văn Tòng đến chỉ thỉ các vấn đề liên quan đến nhiệm vụ của Sĩ quan Hình Cảnh Lại, thì được Trung Tá TQLC Nguyễn Minh Châu Quận Trưởng Dĩ An cho gọi máy bảo tôi phải trở về xã Bình An gắp để giải quyết vụ dân quân làng Cao Thái bắt xe ủi và xe GMC của đơn vị Công Binh nói trên…..Câu chuyện đã thuộc về dĩ vãng, tôi chỉ nhắc một đoạn nhỏ liên quan đến Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà và Đại đội Công Binh Kiến Tạo 541(?) trú đóng tại ấp Ngãi Thắng Thuộc Xã Bình An. Tôi không ngờ đã hơn ba mươi năm trôi qua, hôm nay tôi và anh Lê Đồng còn gặp nhau, mặc dù  không tạng mặt tay bắt mặt mừng nhưng gặp nhau trong ý hướng nhớ về Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà, nơi mà tôi với anh đã có một thời phục vụ.

Hơn ba chục năm rồi mà hình ảnh khu Nghĩa Trang Quân Độ Biên Hoà vẫn còn đậm nét trong tôi, với biết bao kỷ niệm, biết bao nhiêu lần tôi chứng kiến cảnh đau thương ‘Lá vàng còn ở trên cây, lá xanh rụng trước, Trời ơi ! Là trời !’, chứng kiến bao nét oai hùng của những thiết vận xa M113 chở những linh hồn bất tử của những vì Sao sáng ngời tên tuổi về với Nghĩa Trang trong tinh thần  ‘Anh hùng tử chứ khí hùng nào tử’. Tôi lưu luyến Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà vì nghĩa trang nầy đã cho tôi nhiều kỷ niệm trong hơn hai năm tôi phục vụ tại vùng đất nầy, ngoài ra NTQĐBH còn là một nghĩa trang quân đội lớn nhất Đông Nam Á, đã trở thành một thắng cảnh lịch sử với nhiều kiến trúc ấn tượng, nằm trong lãnh thổ tỉnh Biên Hoà tạo thêm cho Tỉnh Biên Hoà một chút tiếng vang.

Tôi viết phần trên đây cách nay hơn một năm, nay lại có dịp mang ra viết tiếp, vì câu chuyện Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà đang sôi nổi trong dư luận trong và ngoài nước, sau khi Thủ Tưởng Việt Nam ký quyết định số 1568/QĐ-TTg ngày 27-11-2006 ra lệnh Quân Khu 7 bàn giao nghĩa địa xã Bình Anh, một phần đất có địa danh Nghĩa Trang Quân Đội Biên hoà cho Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Bình Dương quản lý và sử dụng vào việc phát triễn kinh tế xã hội.
Sau khi quyết định nói trên được ban ra, nhiều người đã từng quan tâm đến Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà, nhất là thành phần cựu quân VNCH trong và ngoài nước đưa ra nhiều giải đoán, hoặc bi quan hoặc lạc quan hoặc khách quan với những điểm chánh sau đây :
*Đó là dấu hiệu của sự hoà giải và hoà hợp dân tộc, bằng cách chỉ thị cho Quân Khu 7 bàn giao khu đất NTQĐBH đang quản lý, cho UBND Tỉnh Bình Dương làm nghĩa địa dân sự xã Bình An, giúp cho thân nhân của 16.000 tử sĩ VNCH được ra vào tự do để sửa sang mồ mả cho người thân của họ và cũng có thể chánh quyền Việt Nam hiện tại sẽ cho xây dựng nơi nầy thành một Nghĩa Trang Quốc Gia chôn những người lính chiến Việt nam của hai bên chiến tuyến như Nghĩa Trang Quốc Gia ARLINGTON ( Bức Tượng Đá Đen) của Hoa Kỳ tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn.
*Đó là dấu hiệu của sự xoá tên NTQĐBH(cấp Quốc Gia thời VNCH) nay chỉ là nghĩa địa dân sự xã Bình An với diện tích thu hẹp chỉ còn có 58 mẫu thay vì 125 mẫu ta và rồi đây Uỷ ban Nhân Tỉnh Bình Dương sẽ ra thông cáo yêu cầu những người có thân nhân chôn tại nghĩa địa xã Bình An (tức Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà) phải thực hiện việc bốc cốt cải táng nơi khác để UBND Tỉnh Bình Dương sử dụng phần đất nầy vào việc phát triễn kinh tế và xã hội…
*Đó là dấu hiệu của sự khai thác Nghĩa Trang QĐBH làm khu du lịch để hốt tiền của Việt Kiều, nhất là những người có thân nhân đang an giấc nơi đó…

Việc suy đoán thì ai cũng có quyền suy đoán, nhưng kết quả đúng hay sai vẫn phải chờ thời gian sẽ trả lời. Tuy nhiên, lòng tôi vẫn cầu mong Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà sẽ còn lưu dấu tích giữa không gian và cả trong lòng người dân Việt, mặc dù tỉ lệ cầu mong của tôi rất mong manh.
Và sau đây là phần diễn tiến liên quan đến việc hình thành NTQĐBH, do tôi sưu tầm và ghi lại qua nhiều tờ báo trên mang lưới toàn cầu:
-NTQĐBH được thành lập do sáng kiến của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.
-Bộ Tổng Tham Mưu/ Quân Lực VNCH, được giao phó công tác dùng trục thăng thi sát địa thế khắp vùng đất rộng thuộc ba tỉnh Gia Định, Biên Hoà và Bình Dương và sau cùng chọn một địa điểm rất tốt đẹp, một ngọn đồi thoai thoải rộng 125 mẫu ta thuộc ấp Bình Thắng, xã Bình An(Dĩ An/ Biên Hoà), dự trù chôn đến 30.000 tử sĩ.
-Một đồ án trong số 54 đồ án hình thành NTQĐBH của Trường Đại Học Kiến trúc Sài gòn đệ trình, được tuyển chọn với tất cả phần kiến trúc như hiện trạng hôm nay gồm Cổng Tam Quan, Đền tử Sĩ, Nghĩa Dũng Đài… và sự phân chia thành từng khu vực trong nghĩa trang…
-NTQĐBH được giao cho Công Binh VNCH(Liên Đoàn 30 Công Binh Kiến Tạo) thực hiện và khởi công hình thành khu đất nghĩa trang vào năm 1965
-Doanh trại Liên Đội Chung Sự và nhà xác được xây cất vào năm 1966 và cũng từ năm nầy, NTQĐBH bắt đầu đón nhận tử sĩ về yên giấc nơi đây.
-Công trình xây Cổng Tam Quan và Đền Tử Sĩ cũng được thực hiện sau đó.
-Tượng ‘Tiếc Thương’ được hình thành qua nhiều giai đoạn, từ khi Thiếu tá ngành Quân Nhu cũng là một điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu vẽ mẫu trên tờ giấy bao thuốc lá, tìm người làm mẫu, đúc tượng bằng thạch cao quét nhũ vàng đặt nơi cổng vào Nghĩa Trang vào ngày 1-11-1966, sau đó một thời gian, tượng đưa về xưởng điêu khắc khoảng 1970, để được đúc lại bằng đồng …
-Sau vụ Tết Mậu Thân(1968) và Mùa hè Đỏ Lửa (1972), NTQĐBH đã chôn đến 10.000 chiến sĩ hy sinh và nhiều tướng tá.
-Đến ngày 30-4-75 đã có đến 16.000 lính chiến tử trận chôn tại NTQĐBH trong số có một ngôi mộ chôn tập thể 60 binh sĩ tử trận sau cùng của cuộc chiến.
-Nghĩa Dũng Đài đang thực hiện dang dở, dự trù hoàn tất trước ngày 19-6-1975, nhưng đến ngày 30-4-75 VNCH chịu cảnh tan hàng, rã ngũ.
-Khoảng đầu tháng 5-75 tượng Tiếc Thương bị giật sập đồng thời một đơn vị bộ đội thuộc Quân Khu 7 được điều động đến trấn giữ nghĩa trang nầy.
-Từ 1998, đã có nhiều cá nhân và nhiều nhóm Việt kiều Hải ngoại phối hợp với những người trong nước lo việc tảo mộ binh sĩ và tướng tá còn nằm tại Nghĩa trang….
-Tháng 7-2007 Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ra quyết định giao nghĩa địa Xã Bình An (tức NTQĐBH trước đây) với diện tích 58 mẫu ta thay vì 125 mẫu do QK 7 quản lý hơn 30 năm qua, cho UBND Tỉnh Bình Dương sử dụng vào mục đích phát triễn kinh tế xã hội.
-Hiện tại, ở hải ngoại, nhiều tờ báo đã đề cập đến NTQĐBH và đưa nhiều giải đoán hoặc lạc quan, hoặc bi quan hoặc khách quan như tôi có dịp trình bày trên đây, ngoài ra còn có một số người suy diễn xa hơn, nhân dịp nhà điêu khắc Nguyễn Thanh Thu đã trở về Việt Nam, họ cho rằng nhà điêu khắc nầy có ý định tái thực hiện ‘Tượng Tiếc Thương’ ở một nơi nào đó, nhưng theo tôi thì việc nầy khó mà thực hiện hoặc không bao giờ có thể xảy ra. Ông Nguyễn Thanh Thu đang  sống với vợ và bảy người con trên một thửa đất hương quả rộng 3.000 thước vuông với nhiều bông hoa,  cây cảnh và tượng mỹ thuật (có thể gọi là vườn Mỹ Thuật gia đình của vợ con ông) có một cái quán cà phê hiệu TƯỢNG ĐÁ, khung cảnh trang trí đơn sơ nhưng rất ư  là ‘nghệ sĩ’, đầy nét mỹ thuật pha chút lãng mạn đương thời…tại Phường 1 Quận Phú Nhuận(Sài Gòn). Nhà điêu khắc tài hoa Nguyễn Thanh Thu vẫn mơ mộng nơi đất trời Việt nam, có người tài trợ để ông thực hiện những tác phẩm điêu khắc để đời, như tượng Đầu Rồng có tên Cửu Long Được Mùa…và ông sẽ dừng chân vĩnh viễn nơi quê hương Việt Nam, còn nếu không có những  điều kiên ưu đãi để ông phát huy nghệ thuật điêu khắc… thì ông sẽ xách gói trở qua Mỹ tiếp tục sống cuộc đời tị nạn…(trích ý trong bài viết về ‘ Tác giả Tượng Tiếc Thương’ của nhà văn Văn Quang đăng trong Thiên Hạ Sự số 198 ngày 4-3-2007).
                                               
Nghĩa trang Quân Đội Biên Hoà quan trọng và có ý nghĩa đối với những người từng phục vụ cho VNCH và thành phần dân chúng có cảm tình với chế độ cũ, còn đối với Chánh quyền Việt Nam hiện tại thì NTQĐBH không có ý nghĩa gì cả, mà dường như còn là cái gai trước mắt họ, nên việc chủ trương xoá bỏ NTQĐBH là giải pháp tốt đối với họ, có lợi cho họ về nhiều mặt, xoá bỏ được mọi vết tích tàn dư, cắt đứt được sự hoài niệm của dân chúng với chế độ cũ, sử dụng khu đất vào việc phát triễn kinh tế và xây dựng xã hội…
Những người Việt ở hải ngoại cũng như ở trong nước quan tâm đến NTQĐBH trong ý hướng muốn bảo tồn Nghĩa trang nầy, coi như một chứng tích lịch sử với những công trình kiến trúc hiện hữu, một thắng cảnh, nhưng không biết can thiệp hoặc thỉnh nguyện bằng cách nào ngoài những lời nói suông, tiếng nói không có một chút sức mạnh của những người chiến bại, chỉ còn cách ngồi chờ việc gì đến sẽ đến mà thôi.

Tôi viết bài nầy, không nhằm mục đích chính trị, cũng không nhằm khơi gợi lòng hận thù, mà chỉ thuần là một kỷ niệm cá nhân đối với NTQĐBH trên hai năm tôi nhận lãnh công tác an ninh trật tự tại xã Bình An, với tư cách một Trưởng Cuộc Cảnh Sát. Tôi mong mỏi Chánh Quyền Việt Nam hiện hữu coi 16.000 tử sĩ người Việt chôn tại Nghĩa Địa Xã Bình An nầy trong tinh thần ‘ Nghĩa Tử Nghĩa Tận’ và cho họ được yên giấc nghìn thu tại nơi đây.
                                                                                    Nguyễn Kim Lộc
                                                                                        (11-03-2007)



Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2019

TIẾNG NƯỚC TÔI

TIẾNG NƯỚC TÔI

Sống trong cảnh xa nhà, nhớ nước, mà nghe bản nhạc Tình Ca của Phạm Duy, với tiếng hát vượt thời gian của Thái Thanh, vẳng lên trong đêm thanh vắng, tôi chắc rằng những người Việt đang lưu lạc tha phương, khó mà ngăn được giây phút chạnh lòng, nhớ thuở xa xưa, nhớ tiếng ru của mẹ, nhớ Tiếng Hát Sông Lô, nhớ câu ca Quan Họ, nhớ tiếng hò mạn ngược, nhớ câu đối miền xuôi, nghe tiếng thời gian trôi dưới vòm trời hưng phế …

                  ‘ Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi ! Mẹ hiền ru những câu xa vời. À à ơi ! Tiếng ru muôn đời.’…

                  Tôi nghe tim tôi đang dậy lên một niềm tự hào về tiếng nước tôi, sao mà êm đềm quá, lúc nhẹ như gió thoảng mây bay, lúc dặt dìu như con suối chảy, như có hương tiếng, như có mật trong lời. Lời và nhạc của Phạm Duy đã hoà quyện vào tiếng hát của Thái Thanh  đưa bài Tình Ca bay bổng đến chín từng mây.
‘ Tiếng nước tôi ! Bốn nghìn năm ròng rã buồn vui. Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi !
Tiếng nước tôi ! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi. Thoát nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi !’

Thật tuyệt vời làm sao !

Tiếng nước tôi có một hấp lực như vậy đó. Cũng căn cứ vào các mẫu tự A, B, C…E, Ê... kèm theo năm dấu Sắc, Huyền, Hỏi, Ngã, Nặng, mà nghe sao lúc trầm lúc bổng, khi chơi vơi cao vút, khi lặng lờ chìm nghỉm đáy hồ ao. Tôi hãnh diện về tiếng nước tôi, tiếng nói của người dân Việt đi tìm tự do, vô tình mang theo trên đường vượt thoát làn sóng đỏ và cũng vô tình dàn trải mong manh trên tấm bản đồ thế giới qua hình thức các cộng đồng sắc tộc Việt Nam ti nạn Cộng Sản. Tôi rất mừng tiếng nước tôi được vang xa, tâm tình quê hương tôi được nhiều người hiểu thấu. Nước Việt Nam nhược tiểu bị Tàu đô hộ một ngàn năm và Tây cai trị đến gần một trăm, nhưng tiếng nói của dân tộc Việt Nam có bốn ngàn năm văn hiến vẫn tiềm tàng uyển chuyển theo dòng lịch sử đau thương. Tiếng nước tôi muôn màu muôn vẻ, đang được thế hệ tị nạn thứ nhất ân cần khuyên bảo thế hệ thứ hai giữ gìn và phát huy trong ý hướng ‘tiếng Việt còn, người Việt còn, người Việt còn nước Việt còn’ với niềm hy vọng trong tương lai, nước Việt Nam có tự do dân chủ thực sự và mãi mãi trường tồn.
Ôi tuyệt vời làm sao cho tiếng nước tôi !

‘Tôi yêu tiếng ngang trời. Những câu hò hờn giận không nguôi. Nhớ nhung hoài mảnh tình xa xôi. Vững tin vào mộng đẹp ngày mai’
Nghe rây rứt làm sao…

Tiếng nước tôi không bằng tiếng Mỹ ở vị thế phổ thông trên thương trường thế giới, không bằng tiếng Pháp được chọn sử dụng trong các văn kiện hiệp ước ngoại giao quốc tế, cũng không bằng tiếng Y-Pha-Nho và tiếng Trung Quốc, có hàng tỷ người đang sử dụng, nhưng tiếng nước tôi có những nét đặc thù linh hoạt, huyền dịu trong lãnh vực thơ văn, như viên kim cương lấp lánh muôn màu trong kho tàng văn học Việt Nam, mà ít có nước nào có được, có nhiều bài thơ đọc xuôi đọc ngược đều có nghĩa, nhiều ẩn dụ mơ màng, nhiều điệp ngữ dễ thương,… tôi xin đan cử một vài thí dụ để chứng minh màu sắc trong tiếng Việt, như tĩnh từ ĐEN, dịch ra tiếng Mỹ là Black, tiếng Pháp là Noir, tiếng Tàu là Hắc, nhưng chữ ĐEN trong tiếng Việt được sử dụng huyền diệu hơn.
                  Chien noir           Black dog            Hắc cẩu               Chó mực
                  Chat noir             Black cat              Hắc miêu            Mèo mun
                  Coq noir              Black rooster       Hắc kê                Gà quạ
                  Cheval noir          Black horse          Hắc mã               Ngựa ô
                 
Thay vì dùng chữ ĐEN ta lại dùng chữ MỰC, MUN, QUẠ, Ô, để diễn tả một cách riêng tư cho từng loại thú, nghe rất hay, xác định hơn, như đã có trạng từ nằm trong đó, thí dụ Gà Quạ, diễn tả được màu đen, nhưng đen thế nào, thì ta có thể trả lời là đen tuyền, giống màu đen loài quạ, có nghĩa ngoài màu đen, con gà không có điểm thêm một màu nào khác. …hoặc chữ CHẾT dịch ra tiếng Pháp là MOURIR, tiếng Mỹ là TO DIE  hoặc PASS AWAY nhưng trong tiếng Việt được dùng theo tôn ty đặc biệt:
Nhà vua chết dùng chữ ‘băng hà’
Nhà sư chết dùng chữ ‘viên tịch’
Đại phu chết dùng chữ ‘tốt hay thốt’
Tướng chết theo thành dùng chữ ‘tuẩn tiết’
Kẻ sĩ hay người có tuổi từ 70 trở lên thì dùng chữ ‘thất lộc’ hay ‘ qui tiên’
Chiến sĩ chết được dùng chữ hy sinh
Người bình dân chết thường dùng chữ ‘tử’ hoặc ‘qua đời’ hoặc chữ ‘thác’ (sống khôn thác thiêng).
Hai thí dụ vừa kể trên cho ta thấy tiếng Việt vô cùng  phong phú.

Và sau đây là những câu tiêu biểu cách dụng ngữ trong văn chương Việt Nam mà khó có nước nào vận dụng được, như chữ ‘Ai’ trong mẫu chuyện người vợ mới cưới mang cơm ra đồng cho chồng, ngượng ngập e lệ gọi: “ Nầy ai ơi lên mà ăn cơm”.Và sau đó, để trả lời câu nói đùa của vợ, chồng hỏi lại: “Ai gọi ai lên ăn cơm đấy?”, người vợ trả lời: “Ai gọi ai lên ăn cơm, chứ còn gọi ai nữa!”(1) Một chữ  ‘Ai’ mà dùng cả ba ngôi không phải tuyệt lắm sao!
Xin mời các bạn đọc thêm vài thí dụ sau đây:
1/.  khi tả cảnh hàng liễu bị tuyết phủ trong khoảng đất trời hoang vắng, tác giả dùng ‘ẩn dụ’ rất thần tình…
“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang!
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng!”
                                             (Xuân Diệu ?)

2/. Cách sử dụng điệp ngữ rất tuyệt vời trong bài thơ Tràng Giang của nhà thơ Huy Cận:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngã
Củi một cành khô lạc mấy dòng
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vẳng chợ chiều
Nắng xuống chiều lên sâu chót vót
Sông dài trời rộng bến cô liêu
Bèo giạt về đâu hàng nối hàng
Trên sông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Không chút bờ xanh tiếp bãi vàng.
                                   
3/. Hoặc bài thơ của Hồ Xuân Hương tả Bánh Trôi Nước (một thứ bánh làm bằng nhân đậu xanh vo tròn và bột nếp bọc bên ngoài, lớn hơn quả trứng gà, nấu với nước đường gừng và khi ăn, cho vào chén một tí mè rang) tác giả tả rõ ràng như thế mà có người lại cho rằng bà đã tả cặp nhũ hoa của người phụ nữ, rồi từ đó tưởng tượng xa xôi. Thế có chết không chứ ! Tác giả viết rất thanh nhưng có người cứ giảng tục. Ý tôi muốn trình bày một bài thơ có hai ý nghĩa, ai muốn nghĩ thế nào cũng được.
‘Thân em thì trắng phận em tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc lòng tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.’

4/. Hoặc có những bài thơ có từng cặp chữ nói láy rất tài tình như dưới đây
Chú phỉnh tôi rồi chính phủ ơi
Chú khiêng lên hết chiến khu rồi
Thi đua rồi lại thua đi mãi
Kháng chiến lâu ngày khiến chán thôi.
                                             ( tác giả ?)

5/. Các bạn xem chữ Quốc sau đây có còn là chữ Hán nữa không ? Hay đã thành tiếng Việt Nam tự lâu rồi. Chữ Quốc là danh từ riêng, anh Quốc. Chữ quốc là danh từ chung có nghĩa là nước….
‘Ngày xưa khi anh vừa khóc chào đời
Mẹ yêu theo gương người trước chọn lời
Đặt tên cho anh anh là Quốc
Đặt tên cho anh anh là nước
Đặt tên cho người đặt tình yêu nước vào nôi.
Việt Nam đang sôi sôi lòng nước
Việt Nam đang sôi sôi lòng Quốc
Việt Nam đang đòi tự do hạnh phúc giống nòi’( 2)

Sau đây là một số tiếng nước ngoài đã được Việt hoá và được người Việt sử dụng nhuần nhuyễn như chữ xà phòng Ca Dom, chữ ga… đến độ không ai còn tưởng đó là chữ ngoại quốc nữa
‘Những ngày nghỉ học tôi thường tới
Đón chuyến tàu đi đến những ga
Tôi đứng buâng khuâng nghe tiễn biệt
Lòng buồn đau xót nỗi chia xa.(3)
                                            
Người Mỹ, người Pháp, người Trung Hoa hãnh diện về tiếng nước họ, tôi cũng hãnh diện về tiếng nước tôi, tiếng nước tôi rất lung linh huyền diệu như những thí dụ nói trên.
Và sau đây là phần tôi muốn chứng minh những lời tôi vừa trình bày là một sự thật hiển nhiên và nhân dịp nầy tôi xin tỏ lòng biết ơn những người ngoại quốc đã từng nghiên cứu và có những nhận xét vô tư về tiếng nước tôi:
‘-Ông G. Meillon người Pháp cho rằng tiếng Việt là một thứ  tiếng vừa văn chương vừa giàu nhạc điệu nhất thế giới’.
‘-Ông Frey một nhà ngữ học người Pháp  có lẽ nhận thấy những vận gốc của tiếng Việt đầy đủ quá( chính điều nầy khiến người Việt học bất cứ ngoại ngữ nào cũng rất chóng) nên đã nêu một giả thuyết táo bạo: “Tiếng Việt là mẹ các thứ tiếng”.
-Ông Pazzi người Ý nhận xét: “Ngôn ngữ Việt Nam là ngôn ngữ duy nhất trên thế giới có nhiều giọng điệu cung bậc…
Phải nghe người dân mỗi miền, người Bắc, hay Trung, hay Nam hát những dân ca quen thuộc với tiếng nói thuần tuý và giọng thuần tuý của họ, chúng ta mới thấy ý vị của giọng nói ấy đậm đà đến chừng nào.
Sự phong phú trong âm thanh lại được thay đổi qua nhiều miền đất của quê hương họ…
Nếu phải tô màu các các giọng nói ấy, người ta có thể vẽ một bản đồ Việt Nam thật đẹp. Có miền màu xanh, có miền màu hồng, có miền màu trắng, có miền màu vàng, đấy là chưa nói mức độ đậm lợt khác nhau…”(4)
Tiếng Việt Nam giàu âm thanh, nhiều màu sắc, dễ giúp cho các dịch giả Việt Nam thành công trong phần dịch thuật thơ và nhạc ngoại quốc. Mời các bạn thưởng thức phần dịch thuật các bài thơ dịch sau đây mà tôi cho rằng quá tuyệt vời:

Từ Thuở Chàng Đi
Từ ngày chàng bước chân đi
Cái khung dệt cửi chưa hề nhúng tay
Nhớ chàng như mãnh trăng đầy
Đêm đêm vầng sáng hao gầy đêm đêm.

(Nhà văn Ngô Tất Tố dịch từ bài thơ ‘Tự Quân Chi Xuất Hĩ’ của Trương Cữu Linh :Tự quân chi xuất hĩ- Bất phục lí tàn ki- Tự quân như nguyệt mãn- Dạ dạ giãm thanh huy.)

Xuân Oán
Đuổi dùm hộ thiếp con oanh
Đừng để nó hót trên cành trêu ngươi
Làm tan mộng thiếp đang say
Khiến không được đến Liêu Tây cùng chàng.

(Giáo sư Trần Trọng San dịch bài Xuân Oán của Kim Xương Tự: Đả khởi hoàng oanh nhi- Mạc giao chi thượng đề- Đề thời kinh thiếp mộng- Bất đắc đáo Liêu Tây.)


         Tiễn Biệt Trên Sông Dịch
Nơi đây từ biệt Yên Đan
         Máu hùng dựng tóc căm hờn lòng sôi
         Người xưa chừ đã đi rồi
         Hôm nay dòng nước còn trôi lạnh lùng.

(Giáo sư Trần Trọng San dịch từ bài thơ ‘ Dịch Thuỷ Tống Biệt’ của Lạc Tân Vương: Thử địa biệt Yên Đan,Tráng sĩ phát xung quang,Tích thời nhân dĩ một, Kim nhật thuỷ do hàn.)
         Còn rất nhiều bài thơ, bản nhạc dịch từ tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Trung Hoa…,mà các tác giả người Việt dịch rất tài tình, nếu đem đối chiếu, người ta không nghĩ đó là bản văn dịch… trường hợp Phan Huy Vịnh dịch bài Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị, hoặc Thiếu Lăng Quân dịch nhiều bài thơ tiếng Pháp…Tôi đang có gắng sưu tầm để có một dịp nào đó viết thành bài cống hiến quí đồng hương.

         Và sau đây tôi muốn trình bày thêm cùng các bạn một vài thể thơ rất đặc biệt mà tôi tin chắc có nước nào có được.
Thể thơ Vĩ Tam Thanh
         Tai nghe gà gáy tẻ tè te
         Bóng ác vừa lên hé hẻ hè
Non một chồng cao von vót vót,
Hoa năm sắc nở loẻ loè loe
Chim, tình bầu bạn kia kìa kỉa,
Ong, nghĩa vua tôi nhe nhẻ nhè,
Danh lợi mặc người ti tí tỉ.
Ngủ trưa chưa dậy khoẻ khoè khoe.
                                    ( Vô Danh)
Thể Song Điệp
         Vất vất, vơ vơ cũng nực cười !
         Căm căm, cúi cúi có hơn ai ?
         Nay còn chị chị, anh anh đó;
         Mai đã ông ông, mụ mụ rồi.
         Có có, không không lo hết kiếp;
         Khôn khôn, dại dại chết xong đời.
         Chi bằng láo láo, lơ lơ vậy,
         Ngủ ngủ, ăn ăn nói chuyện chơi.
                                             (Vô Danh)
Thể thơ Thuận Nghịch Đọc

                  Cảnh Hồ tây
                  (Bài đọc xuôi)
Đây vui thực lạ cảnh Tây Hồ !
Trước tự trời kia khéo vẽ đồ.
Mây vẫn nước xanh màu tõ ngọc ,
Nguyệt lòng hoa thắm vẻ in châu;
Cây la, tán rợp, từng cao thấp;
Sóng gợn cầm tâu dịp nhỏ to
Bày khéo thú vui non nước đủ;
Tây-hồ giá ấy dễ đâu so.

         (Bài đọc ngược)
So đâu dể ấy giá hồ Tây !
Đủ nước non vui thú khoé bày,
To nhỏ dịp tâu cầm gợn sóng,
Thấp cao từng rợp tán la cây.
Châu in vẻ thắm hoa lồng nguyệt.
Ngọc tỏ màu xanh nước lộn mây.
Đồ vẻ khéo kia trời tự trước;
Hồ Tây cảnh lạ thực vui đây.
                           (Vô Danh)
(Bài thứ nhất, bạn đọc xuôi từ chữ thứ nhất câu 1 đến chữ thứ 56 câu tám; bài thứ hai, bạn đọc theo trình tự từ chữ 56 ngược lên chữ số một, hai bài thơ đều có nghĩa hẳn hoi).
 Bạn thử giúp tôi xem có bài thơ ngoại quốc nào viết được như vậy không ?

 Các bạn trẻ Việt Nam đang ở khắp nơi trên thế giới có dịp nghiên cứu ngôn ngữ các nước, hãy nghiệm xem lời tôi trình bày có thái quá không? Có nhiều cái ‘Ta’ trong đó không ? Có phải tại vì đó là tiếng Việt nên được người Việt ca ngợi không ? Hay đó là sự thật hiển nhiên. Trong thời gian qua đã có nhiều người ngoại quốc nghiên cứu tiếng Việt và xác nhận: “Tiếng Việt là một thứ tiếng nhiều màu sắc, giàu âm thanh, nhưng rất đơn giản và dễ học nhất, chữ dài nhất trong chữ Việt là chữ NGHIÊNG, có bảy mẫu tự, kết thành một vần (monosyllable) và chỉ phát ra một âm, trong khi đó tiếng dài nhất trong tiếng Pháp và cũng dài nhất trên thế giới là chữ ANTICONSTITUTIONNELLEMENT(hai mươi lăm mẫu tự) kết thành nhiều vần (polysyllable) phát ra một chuổi dài chín âm, và chữ nầy dịch ra tiếng Việt là đối hiến hay nghịch hiến.
 Tôi không có dịp nghiên cứu về ngôn ngữ học, nên không hiểu biết nhiều về nguồn gốc và sự biến thiên của tiếng Việt qua từng giai đoạn lịch sử, tôi dự định sẽ tìm hiểu thêm vấn đề nầy trong sách của các Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Hoà, Đàm Trung Pháp… Trong phạm vi bài nầy tôi chỉ nêu lên vài sự hiểu biết hạn hẹp của riêng tôi về cái hay, cái đẹp tôi cảm nhận được trong tiếng Việt, trong văn chương Việt Nam mà tôi có dịp học qua nơi trường học hoặc vô tình thu lượm được ở trường đời.
Tôi nghĩ rằng, tiếng nói của bất cứ quốc gia nào cũng hay, cũng đẹp đối với dân tộc đó, vì ‘Tiếng nói’ ngoài việc giữ vai trò quan trọng trong việc truyền đạt ý tưởng cho nhau, còn hoà quyện vào nền văn hoá dân tộc để trở thành tiếng nói thiêng liêng của dân tộc ấy. Ý thức được điều nầy, nên tôi không bao giờ dám nói ‘Tiếng Việt hay tiếng nước tôi là hay nhất, mà tôi chỉ xin trình bày cái may mắn đưa đẩy cho dân tộc Việt Nam có được tiếng nói giàu âm thanh, màu sắc và có nhiều nét đặc thù duyên dáng trong văn thơ như tôi đã có dịp trình bày nơi phần trên.
Tôi yêu tiếng Việt Nam vì tôi là người Việt Nam, tôi hãnh diện về tiếng nói nước tôi. Tôi chân thành ghi ơn các bậc tiền nhân cùng các ân nhân đã dự phần bồi đấp cho tiếng nước Việt có một vị thế như ngày hôm nay…
Viết đến đây, tôi lại nhớ đến chị Ỷ Lan, tác giả quyển ‘Quê Nhà’, tôi có dịp đọc qua cách đây không lâu. Những bài, chị viết về quê hương Việt Nam, rất duyên dáng và chính chị đọc qua làn sóng của đài BBC vào khoảng thập niên 80…Tôi rất quí mến Ỷ Lan. Ỷ Lan tên thật là Penelope Faulkner, người gốc Hồng Mao. Mãi đến giờ phút nầy tôi vẫn chưa hiểu thấu tại vì sao Ỷ Lan lại đam mê học tiếng Việt, tìm hiểu văn hoá Việt Nam, viết văn chương Việt Nam và xin nhận Việt Nam làm quê hương, mặc dù chị chưa một lần bước chân đến đất nước Việt Nam. Bài chị viết về quê hương Việt Nam đọc trên đài BBC nghe rất cảm động, phần đông người Việt cứ tưởng chị là người Việt Nam, vì chị hiểu biết quá nhiều về phong tục tập quán Việt Nam. Những bài chị viết như Lạc Long Quân với Âu Cơ…đã làm nứt lòng hàng triệu người Việt Nam, trong số đó, có thi sĩ Bàng Bá Lân và nữ sĩ Mộng Tuyết, hai thi sĩ tiền bối nầy đã có dịp làm thơ khen ngợi. Chị làm cho người Việt nổi lòng ghen với chị, tại sao chị là người Anh mà chị viết và đọc tiếng Việt đúng quá, hơn hẳn một số người Việt (trong số đó có tôi) còn nói ngọng nghịu tiếng nước mình cái ‘lon’ lại nói cái ‘non’, cái quần lại đọc cái quần(g), chữ ‘về’ lại phát âm thành ‘dề’, chữ ‘rồi’ lại đọc thành ‘gồi’ hoặc những người Việt sanh ra tại Mỹ, lại đọc tiếng Việt lơ lớ không bằng chị, một người Anh chánh gốc và cũng từ dạo ấy, tôi làm một bài thơ thương mến chị, nhưng viết rồi lại để đó, nay có dịp viết về bài Tiếng Nước Tôi, tôi lại cho vào đây để cám ơn chị. Tôi không có địa chỉ của chị để gởi bài thơ nầy đến tặng chị, nhưng tôi tin rằng rồi đây, một ngày nào đó, chị cũng sẽ đọc được thôi, rồi chị sẽ ngạc nhiên và thầm nghĩ rằng có thêm một người thương mến mình lâu rồi mà mình không hay biết.

                           Thương Mến Ỷ Lan

Ỷ Lan ! Tôi mến chị, vì chị yêu quê tôi
Chị học tiếng Việt rồi, viết ‘Quê Nhà’. Ôi tuyệt !
Chị nhận non nước Việt làm quê hương của mình
Quí chị một tấm lòng tràn đầy tình nhân ái.

Con tàu ra hồ hải, cứu vớt người vượt biên
Trong ba chiến dịch liền, đứng hàng đầu tranh đấu
Ôi ! Ỳ Lan yêu dấu, thương chị quá chị ơi !
Mỗi lần nhớ quê tôi là lần tôi nhớ chị.

Tiếng nước tôi khó dễ ? Sao chị học như chơi !
Viết như nước vỡ bờ, mạch văn tràn lai láng
Một tâm hồn trong sáng, chị tìm giống Lạc Hồng
Chị viết ‘ Cọp Xuống Hang’, ‘Sài Gòn Trong Tưởng Tượng’.

Chị ơi ! Tôi trịnh trọng đặt tên chị lên ngai
Để có dịp ngày ngày, tôi tâm tình với chị
Một phụ nữ phương Tây, biết thương nòi giống Việt
Biết vận dụng tiếng Việt, làm lợi khí đấu tranh.

Một viên ngọc long lanh toả muôn màu sáng chói
Chị ơi ! Tôi đợi mãi, thầm ước có một ngày
Siết nhẹ đôi bờ vai, cho thoả lòng mong nhớ.
Chị ơi ! Thương mến chị… vì chị yêu quê tôi.

         Viết bài nầy, tôi có ý trình bày với đồng hương Biên Hoà cùng các bạn trẻ người Việt đang định cư rãi rác trên bảy mươi quốc gia trên thế giới, phần nào về cái hay, cái đẹp, cái tuyệt vời trong tiếng Việt mà tôi cảm nhận được với ý mong các bạn cũng có cảm nhận nầy và cố gắng thu thập cái hay cái đẹp của xứ người, từ ý lẫn lời và cho chuyển tải vào nền văn học nước nhà để làm cho kho tàng tiếng Việt ngày thêm phong phú, đồng thời tôi cũng xin nhắc nhở quí ông anh bà chị của tôi nên cho con cháu học thông thạo tiếng Việt để tránh thiệt thòi cho con cháu sau nầy và cũng để tránh cho người đời có dịp cười chê rằng : ‘Người Việt Nam, nói không rành tiếng Việt Nam, như thế mà cứ xưng là trí thức’. Có thể có một vài vị không đồng ý về cách trình bày của tôi vì cho rằng tôi quá đề cao tiếng Việt và nếu có trách… thì tôi cam chịu, chứ tôi không thể nào viết khác với những điều mà lòng tôi cảm nhận một cách vô tư được.Tôi xin kết thúc bài viết nầy bằng bài thơ sau đây:

                  TÔI YÊU TIẾNG NƯỚC TÔI

                  Tôi yêu tiếng nước tôi từ thuở,
Mẹ hiền ru vần điệu cao dao,
Bổng trầm êm dịu làm sao
Những lời mộc mạc những câu thâm tình.
Tôi yêu tiếng quê mình biết mấy !
Phương trời xa tôi vẫn mang theo,
Nhớ từng trang sử câu thơ
Núi xanh sông thắm bên bờ đại dương.
Tiếng nước tôi ngập tràn chiến tích,
Chống ngoại xâm, chống Pháp, chống Tàu
Từ Nam Quan đến Cà Màu
Một lòng vì nước diệt thù giữ quê.
Tiếng nước tôi thắm tươi vần điệu
Từng lời thơ êm dịu làm sao
Khi vui dấu sắc vươn cao
Lúc buồn huyền nặng đệm vào trầm êm.
Tiếng nước tôi sắc, huyền, hỏi, ngã
Nặng và không …diễn tả bổng, trầm.
Tiếng nước tôi tiếng độc âm
Nhưng giàu nhạc tính, ẩn lòng từ bi.
Những khúc vui điểm ghi luyến láy,
Câu ngược xuôi có nghĩa như thường,
Những vần điệp ngữ dễ thương
Những lời ẩn dụ vương hương ý đời.
Tiếng nước tôi tuyệt vời biết mấy
Mỗi chữ đen từ ấy diễn ra
Mèo mun, chó mực, ngựa ô
Thâm trầm ý nghĩa sắc màu lung linh.
Viết đến đây tôi xin dừng lại
Sợ có người chê… ‘quá lời khen’
Khi nào bạn có rảnh rang
Bước vào tiếng Việt mà chan ý đời.

                                                                     Nguyễn Kim Lộc
                                                       Chicago, ngày 17-09-05

(1) và (4) trích trong quyển Người Việt Đáng Yêu của nhà văn Doãn Quốc Sĩ (trang99…), (2) Trong bài ‘Huyền Sử Ca Một Người Mang Tên Quốc của nhạc sĩ Phạm Duy, (3) thơ của thi sĩ Tế Hanh.