Thứ Ba, 10 tháng 11, 2015

TẢN MẠN VỀ NGHĨA TRANG QĐBH

Tản Mạn về NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI BIÊN HOÀ

Thời Việt Nam Cộng Hoà, ngoài các nghĩa trang quân đội thuộc các Tiểu Khu, còn có hai nghĩa trang lớn. Đó là Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp (Gia Định), nhưng vào khoảng năm 1964, nơi đây được mô tả là quá tải, thì Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà được lệnh thành lập, nhằm đáp ứng nhu cầu mộ địa cho tử sĩ mỗi ngày một gia tăng theo chuyển biến chiến trường ngày càng sôi động … Thường, các chiến sĩ ngã gục nơi  trận địa được các đơn vị đang hành quân đưa lên trực thăng chở về Nghĩa Trang. Nơi đây cho tắm rửa sạch sẽ, rồi cho vào từng hộc ướp lạnh, chờ thân nhân đến nhận và quyết định hoặc đưa về chôn ở quê nhà hay an táng tại nơi nầy.
Kể từ Tết Mậu Thân, năm 1968 đến ngày 30-4-1975, không ngày nào Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà không có tiếng khóc than của thân nhân, xót thương người tử sĩ. Những chiếc khăn tang, cùng khói nhang và tiếng mõ… tạo cho Nghĩa Trang một nét trầm buồn thảm não… nhất là những buổi chiều mưa, có dịp ngồi nhìn những dải mồ, những tấm bia đồng dạng, ngay hàng thẳng tấp, sơn màu vôi trắng và có những người vợ trẻ ôm nấm mồ khóc trong mưa…ta cảm thấy lòng mình như có nỗi buồn lây, đau xót cho cuộc đời người lính chiến quá mong manh, ngắn ngủi và cảm thương nỗi đau khổ của vợ trẻ…  Trước cảnh tử biệt sinh ly nầy, dù ai sắt đá cũng phải mềm lòng, tự nhiên dòng lệ tuôn rơi… rồi đâm ra căm thù Cộng Sản và nguyền rủa chiến tranh, đã tàn nhẫn cướp đi bao mạng sống của những người trai trẻ, lứa tuổi mười chín, đôi mươi.
Biết bao bà mẹ già tóc bạc phơ đến Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà, buồn bã khóc con thơ và nghe anh Trưởng Ban Nghi lễ Hậu Sự đọc điếu văn có câu “ Lá vàng còn ở trên cây, lá xanh rụng trước …Trời ơi là Trời !!
Và biết bao mái đầu xanh tức tưởi khóc thương cha, rồi liên tưởng đến số phận mồ côi trong phần đời còn lại với một tương lai đầy bóng tối.

Sau ngày 30-4-75, trong cảnh tranh tối tranh sáng,vẫn có nhiều người lặng lẽ đến viếng Nghĩa Trang QĐBH, thăm mồ tử sĩ, những người thân của họ đang yên nghỉ nơi nầy, trong cử chỉ vội vàng, thương tiếc … vì theo họ suy đoán, có thể Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà sẽ bị cày nát và san bằng…
Đầu tháng 5-75, tượng THƯƠNG TIẾC nơi cổng vào Nghĩa Trang bị giật sập, tượng chỏng ngược đầu xuống đất, cẳng lên trời, cận lề xa lộ, khiển cho những khách qua đường cảm động, âm thầm nhỏ lệ xót thương “anh lính đồng đen”, một khối vật chất nhưng rất có hồn và mang nhiều huyền thoại, xin mời các bạn thưởng thức bài thơ sau đây của Thế Nhân viết về tượng “Tiếc Thương” khoảng thời gian Mùa Hè Đỏ Lửa.  

TƯỢNG  THƯƠNG TIẾC

Đã bao năm rồi nhỉ ! ?
Anh vẫn ngồi lặng im
Giữa trời sương gió lạnh
Nhìn bạn bè ngủ yên.

Anh, pho tượng Tiếc Thương
Nơi cổng vào nghĩa trang
Tôi một ngày về phép
Ngồi tựa dưới chân anh.

Tượng một anh chiến sĩ
Quân phục súng cầm tay
Đôi mắt nhìn lơ đãng
Như tiếc buồn thương ai !

Dáng dấp anh đang ngồi
Truyền thần qua điêu khắc
Nét buồn… ôi sâu sắc !
Tan tác chiều mưa rơi!

Tôi tựa vào lưng anh
Nghe nỗi đời băng giá
Chưa tàn điếu thuốc lá
Ngao ngán đời chiến chinh.

Nhưng biết làm sao nhỉ !?
Còn sống còn đấu tranh
Mai trở về đơn vị
Tiếp tục bước quân hành.

Tiểu trừ phường Cộng Sản
Giữ thôn xóm bình an
Bảo vệ đất Miền Nam
Trời tự do quang đãng.

                        THẾ NHÂN
                 (Sau mùa hè đỏ lửa/72)

Đại đa số người Việt chỉ biết hoặc có dịp ngắm tượng  Thương Tiếc do điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu thực hiện, đặt tại cổng vào nghĩa trang, nhưng ít người có dịp thưởng thức bức hoạ vẽ cảnh tượng  Thương Tiếc (không rõ tên hoạ  sĩ), treo trên tường văn phòng của Đại Đội Chung Sự, mà nhà thơ Thế Nhân có dịp ngắm và cảm xúc ...


Bức Tranh ‘TƯỢNG THƯƠNG TIẾC

Anh ngồi giữa không gian
Như ngồi trong tranh vẽ
Nét trầm buồn lặng lẽ
Mây trắng chiều nghĩa trang.

Bức tranh xanh xám nhạt
Toàn cảnh anh đang ngồi
Tôi ngắm nhìn anh mãi
Niềm thương tiếc không nguôi.

Hoạ sĩ nào tài thế
Vẽ nỗi buồn xa xăm
Hoàng hôn trên mộ địa
Thương tiếc đời quân nhân.

Những hàng bia ngang dọc
Thẳng tấp trên đỉnh đồi
Những mái đầu bạc trắng
Khóc con vừa đôi mươi.

Lá xanh rơi rụng trước
Lá vàng còn trên cây
Thanh niên đền nợ nước
Hồn vương nghĩa trang nầy.

Hồn nghĩa trang đã nhập
Vào hồn anh miên man
Biết bao là huyền thoại
Tô đẹp đời quân nhân.

Anh đi vào bất tử
Biết bao người kính phục
Anh đã chọn tự do
Hy sinh vì dân tộc.

                        THẾ NHÂN
                 (Sau mùa hè đỏ lửa/72)

Vài nét về diễn tiến c ông trình xây dựng NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI VNCH:
-Theo lệnh của Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, các bộ Quốc Phòng, Nội Vụ, Y Tế, Công Chánh…phối hợp, dùng trực thăng, bay quan sát địa thế, tìm địa điểm… Kết quả, Ủy ban chọn một vị trí, một ngọn đồi không cao lắm, có độ dốc thoai thoải, cận xa lộ Biên Hoà –Sàigòn và cách trung tâm Sài Gòn khoảng hơn 20 cây số, phần đất thuộc ấp Bình Thắng Xã Bình An (Dĩ An-Biên Hoà), thời ông Nguyễn Văn Hương (thân phụ của Thiếu Tá Nguyễn Văn Lớn (VNCH) gốc người Biên Hoà) làm Xã Trưởng nơi đây. 
-Công tác xây dựng Nghĩa Trang Quân Đội VNCH được giao phó cho  một Liên Đoàn 30 (?) Công Binh Kiến Tạo thuộc Bộ Tổng Tham Mưu thực hiện và khởi công vào năm 1965, tại khu đất đã chọn nói trên, rộng 125 mẫu Tây với dự trù chôn 30.000 tử sĩ.
-Thoạt tiên, đơn vị Công Binh san định khu đất và xây cất các phòng ốc cho Đại Đội Chung Sự thuộc Nha Quân Nhu và một nhà ướp xác…
-Thiết lập phân ô từng khu mộ địa mà sau nầy tôi có dịp nhìn qua không ảnh, từ trên không thẳng xuống, khu mộ địa có dạng một hình Bát Quái và khi nhìn xiêng giống hình một con ong khổng lồ, đầu hướng ra xa lộ.
-Cổng Tam Quan (hoàn tất trước 1970)
-Đền Tử Sĩ trên đỉnh đồi (hoàn tất trước 1970)
-Tượng Tiếc Thương đặt tại cổng vào khu Nghĩa Trang (do điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu thực hiện bằng xi-măng cốt sắt đặt tại cổng Nghĩa Trang vào ngày 1-11-1966, sau đó được đúc và thu nhỏ lại bằng đồng và đặt lại trước công Nghĩa trang năm 1970.
-Con đường nhựa dài khoảng hơn 200 thước hai bên lề có trồng cây bạch đàn râm bóng mát, người địa phương đã đặt tên cho con đường nầy là “Đường Vào Nghĩa Trang”
-Con đường đất khá rộng (dự trù trán nhựa) chạy giữa đồi, theo hướng Bắc Nam, tiếp giáp đoạn đường nhựa, từ ngã ba rạch Bà Lồ, chạy ngang công ty Giấy MêKông, hướng thẳng đến Vườn Ươn Cây Ấp Bình Thắng, phân cách Đền Tử Sĩ và khu mộ địa.
-Nghĩa Dũng Đài cao 40 thước,dựng trên một bệ bê tông cốt sắt được bao bọc bởi một bờ thành bê tông, thấp, sơn trắng, khiến cho những người nhạy cảm đặt liền cho một cái tên là “Vành Khăn Tang”, dự trù hoàn tất vào ngày 19-6-1975, nhưng bất hạnh thay cho chế độ VNCH, bị sụp đổ vào ngày 30-4-75. Từ xa hoặc từ trên cao nhìn xuống giống như một thanh gươm khổng lồ, cái chuôi chôn xuống đất.
-Tính đến ngày 30-4-1975,  số tử sĩ được đưa về an táng tại NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI nầy lên đến 16.000 người.
                                                ***
Miền Nam đã sụp đổ, nhưng biết bao người vẫn tiếc nuối chế độ Việt Nam Cộng Hoà, một chế độ tự do … và biết bao người vẫn thương mến người chiến sĩ QLVNCH, bản tính hiền hoà nhưng khí thế rất hào hùng, họ luôn quan tâm đến phần mộ người tử sĩ, mời bạn nghe các nhà thơ Trần Vấn Lệ, Thanh Nam và thi sĩ Vô Danh víêt về NTQĐBH như sau.

Ta về giữa chốn hoang sơ
Thầm hôn trên những nấm mồ vô danh
                                    (Vô danh)

…Ta như người lính thua trận
Nằm giữa sa trường nát gió mưa
Khép mắt cố quên đời chiến sĩ
Làm thân cây cỏ gục ven bờ
Chợt nghe từ đáy hồn thương tích
Vẳng tiếng kèn truy điệu mộng xưa…
                                    (Thanh Nam)

Tôi đi tìm những linh hồn,
Chết vì lý tưởng bảo tồn ước mơ
Hy sinh cho mỗi màu cờ.
Khổ đau khổ nhục còn chờ khai sinh…
Tôi đi tìm một lá cờ
Cho người nằm xuống đã chờ quá lâu
                                    (Trần Nguyễn Thiện Hiền)

Cảm ơn một chỗ để về:
“Nghĩa Trang Quân Đội” bốn bề vắng tanh!
Cảm ơn hai chữ Hoà Bình
Quê hương đổi mới cho mình cô đơn!

Cảm ơn!  Sao lại cảm ơn?
Nghĩa trang Quân Đội nén hương rã rời…
Mất đi tiếng khóc . Nên cười …
Mất đi pho tượng Lính ngồi, Tôi đi…

Đi quanh nhặt được mảnh chì
Đầu bom, đuôi đạn, còn chi cũng tình
Mộ người đã lấp cỏ xanh
Hồn thiêng sông núi còn hình nắng mưa!

Cảm ơn còn chỗ làm thơ
Rùng vai, còn biết bây giờ, đã lâu
Hai lăm năm thế mà mau
Hoà bình lặp lại mà tao với mày….

Rót ra ly rượu, rót đầy
Một trăm phần nhé, ôi mây với trời
Tay run đổ  hết rượu rồi
Cái ly vỡ nát, bia người còn nguyên.
                                    (Trần Vấn Lệ)

Người tử sĩ chiều nghĩa trang hoang lạnh
Vẫn nụ cười trên bia mộ vô danh
Như tự hào đời chiến sĩ liệt oanh
Xem cái chết tựa lông hồng rơi nhẹ.

Hy sinh để không làm thân chiến bại
Hồn phiêu diêu nơi gió bãi trăng ngàn
Thân vùi chôn, hồn phách vẫn hiên ngang
Phù hộ “anh em” mơ trời đổi mới.

Mong các bạn đừng bao giờ “quì gối”
Xin kẻ thù – “Đừng đấp phá Nghĩa Trang”
Nghĩa gì đâu ! Những nấm mộ hoang tàn
Xương cốt rụi, tiêu tan thành cát bụi.

Nếu “Họ” muốn nghĩa trang thành lịch sử
Nghĩa Dũng Đài, Đền Tử Sĩ uy nghiêm,
Vành Khăn Tang và cả Cổng Tam Quan
Ngàn bia mộ nhạt màu vôi trắng lạnh.

Để xem chung – coi như là kỷ niệm
Sẽ trở thành một thắng cảnh danh lam
Cho mọi nguời có dịp đến tham quan…
Và tìm hiểu Việt Nam thời lửa loạn

            Để so sánh Cộng Hoà và Cộng Sản
Thành phần nào có chánh nghĩa Quốc Gia
Và bọn nào nỡ bán đất Ông Cha
Đưa nước Việt vào ngàn năm tăm tối!??
                                (Hồn Nghĩa Trang-Thế Nhân)

Vài sự kiện liên quan đến NTQĐBH sau ngày 30-4-75

Sau ngày 30-4-75, Nhà Nước Cộng Sản cho giật sập tượng “Tiếc Thương” nơi cổng vào Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà, đồng thời tổ chức lại lãnh thổ hành chánh, khu đất “Nghĩa Trang Quân Đội VNCH” trước thuộc tỉnh Biên Hoà, nay thuộc Tỉnh Bình Dương, nhưng do Quân Khu 7 quản lý, đặt thành khu quân sự, dựng bảng “Cấm Xâm Nhập” và bảng “Cấm Chụp Hình”. Và cũng từ đó, cán bộ, bộ đội, và dân chúng địa phương lấn chiếm, xây cất nhà ở chung quanh nghĩa trang, diện tích bị thu hẹp dần, đến nay chỉ còn khoảng 58 mẫu Tây, gói gọn 13.000 ngôi mộ cùng những kiến trúc nghệ thuật có tính lịch sử nói trên.
Mặc dù có bảng cấm, nhưng thân nhân tử sĩ, vẫn khéo léo “ngoại giao” với đơn vị quân sự nơi đây để được vào đốt nhang, cúng bái, trẩy mả hoặc bốc cốt cải táng… nhất là vào dịp gần Tết Nguyên Đán hằng năm.
Ba mươi năm qua, ngoài phần đất, cán bộ, bộ đội đã chiếm cất nhà, còn lại phần mộ địa tử sĩ hoàn toàn hoang phế, cỏ phủ rêu phong, các tấm xi-măng đậy trên mộ bị lấy cắp, khiến mộ bị sụp, trông rất tiêu điều, phần lớn mồ mả nằm trong cảnh hoang tàn vắng lạnh.
Mặc dù có bảng “Cấm Xâm Nhập”, nhưng người ta vẫn rải rác viếng thăm và thỉnh thoảng có hiện tượng lạ, từng đợt, nhiều người đi thăm cùng một lúc, không hẹn mà gặp trong từng thời điểm có ý nghĩa như sau:
Năm 1980, một số đông người đến giã từ tử sĩ, thân nhân của họ, để rồi chuẩn bị cho những chuyến vượt biên…và khó mong ngày gặp lại.
Năm 1990, những người tù cải tạo được thả về, từng đợt đến thăm bạn bè đồng ngũ đã yên giấc nơi nghĩa trang nầy trước khi chuẩn bị hành trang đi HO qua Mỹ.
Những năm kế tiếp, có nhiều người Việt từ hải ngoại về thăm thân nhân  hoặc chồng, con hoặc bạn thân chôn tại Nghĩa Trang QĐBH nhưng đều gặp khó khăn, vì không biết cách ngoại giao…họ thất vọng ra đi với cảm nghĩ chồng con họ là những chiến sĩ VNCH đã chết rồi mà vẫn còn bị “cầm tù” và  bị “cách ly”.

Năm 1994 và những năm kế tiếp một số đông Việt Kiều về thăm viếng NTQĐBH đồng thời “ngoại giao” xin tu sửa mồ mả hoặc bốc cốt, có trên hai ngàn hài cốt đã di dời cải táng nơi khác…

Năm 1997 đến nay, tổ chức IRCC (Cơ Quan Định Cư và Văn Hoá Di Dân), do cựu Đại Tá Vũ Văn Lộc làm Giám Đốc, gần như hằng năm, cũng có cử người về Việt Nam, nhờ anh em thương phế binh phụ giúp sửa sang một số phần mộ tử sĩ, dưới hình thức từng toán nhỏ có tính cách gia đình, như người nhà lo cho thân nhân.

Cuối năm 2004 và vào tháng 12-2006 (?), nhân dịp về thăm Việt Nam, ông Nguyễn Cao Kỳ, một vị tướng lãnh, từng giữ chức Phó Tổng Thống VNCH, có đề cập vấn đề Hoà Giải Hoà Hợp Dân Tộc với Thủ Tướng Phan Văn Khải và đề nghị nên “ hoà giải với người chết trước”, theo tôi hiểu, không biết có đúng không, là Phía CSVN nên giữ nguyên khu NTQĐ/VNCH, có nghĩa là không xoá bỏ và nên cho thân nhân tử sĩ tự do ra vào khu nghĩa trang để tu bổ các phần mộ và lo việc nhang khói… nhưng đề nghị của ông Kỳ dường như không đủ sức thuyết phục…Lúc bấy giờ, chỉ có nguồn tin không chánh thức ‘‘Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam có hứa là sẽ thực hiện (?)’’, nhưng không ai dám tin những gì Cộng Sản nói. Mặc dù vậy, thân nhân tử sĩ vẫn mong chờ trong niềm hy vọng mong manh.

Tháng Giêng 2007, có một nhóm ký giả từ Úc về Việt Nam làm công tác từ thiện gồm có các ông Vi Tuý, chủ nhiệm tuần báo Văn Nghệ, anh  Nhất Giang, chủ nhiệm nhật báo Chiêu Dương, anh Hồ Ông, chủ Bút báo Văn Nghệ…có đến viếng thăm NTQĐBH, thấy có phần dễ dãi hơn một chút và có một hiện tượng rất lạ, là những người dân ngụ quanh Nghĩa Trang tự động tổ chức phân lô khu nghĩa trang theo cách của họ, rồi chia nhau làm công tác tự nguyện trông coi, rẩy mả với tấm lòng thương kính người tử sĩ VNCH, họ lập danh sách các tử sĩ để sẳn sàng hướng dẫn cho thân nhân tìm thăm mộ tử sĩ. Họ không đặt vấn đề tiền công nhưng nếu thân nhân tử sĩ thông cảm và biếu cho họ chút đỉnh tiền thì họ nhận, còn không có cũng không sao. Họ vẫn niềm nở hướng dẫn…nhưng gần như không có một thân nhân tử sĩ nào quên công lao của họ…



Hình Thức xoá dần NGHIA TRANG QUÂN ĐỘI BIÊN HOÀ

Đầu tháng 5-1975, Cộng Sản đã cho giật sập tượng “TIẾC THƯƠNG” ngồi trên bục cao nơi cổng vào nghĩa trang. Nhà Nước Cộng Sản cho phá bỏ tượng “ Anh Lính Đồng Đen”, vì đó là biểu tượng của người lính Cộng Hoà, hào hoa phong nhã, tính khí hào hùng, có lý tưởng hẳn hoi và dám chấp nhận hy sinh cuộc đời của riêng mình để chiến đấu, bảo vệ sự an bình và truyền thống dân tộc.  
  
Đơn vị quân sự trách nhiệm trấn giữ khu NTQĐBH cố ý làm lơ để cho cán bộ, bộ đội, bà con cán bộ lấn chiếm đất, xây cất nhà cửa chung quanh khu NTQĐBH, từ 125 mẫu, hẹp dần, nay chỉ còn 58 mẫu và để cho một số người vô ý thức, cạy lấy nắp mộ và bia của tử sĩ… là một hình thức gián tiếp ngầm phá tan hoang nghĩa trang nầy.

Thập niên 80, một nhà máy nước Thuận An không biết là của Nhà Nước  hay của tư nhân được xây dựng tại vị trí trung tâm, trên con đường đất đỏ băng ngang nghĩa trang, phân cách  khu mộ địa và đền Tử Sĩ.
Cũng trong thập niên 80 (?), một doanh trại huấn luyện Nghĩa  Vụ Quân Sự được xây dựng trên đỉnh đồi.

-Năm 2002 Cộng Sản đã cắt bớt hơn 10 thước ngọn tháp Nghĩa Dũng Đài (?), Dân địa phương cho rằng người Cộng Sản tự ti…, khi so sánh NTQĐ/VNCH với Nghĩa Trang Liệt Sĩ của họ, được hình thành sau ngày 30-4-75 và cách đó không xa, (khoảng chừng một cây số) nằm phía bên kia xa lộ…, nhưng tôi thì không nghĩ như vậy.

-Cuối năm 2006, thủ tướng Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam đã ký Quyết Định  số 1568/QĐ-TTg ngày 27-11-2006 chỉ thị Quân Khu 7 bàn giao khu nghĩa địa  xã  Bình An (tức khu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà) cho UBND Tỉnh Bình Dương sử dụng vào việc phát triễn kinh tế xã hội và sự việc nầy đã được tiến hành xong vào tháng 7-2007. Đây là một Quyết Định vô cùng “ý nghĩa”, cho sự bắt đầu xóa dần Nghĩa Trang Quân Đội VNCH.

-UBND Tỉnh Bình Dương đang dự trù xây một trường học nơi doanh trại của Trung Tâm Huấn Luyện Nghĩa Vụ Quân Sự Quân Khu 7, đã di chuyển đi nơi khác và cũng đang dự trù biến khu đất NTQDBH (chỉ còn 58 mẫu) thành nghĩa địa dân sự xã Bình An, đồng thời, dự trù cho phép những người cư ngụ trong phạm vi xã, huyện địa phương được đưa người thân quá cố vào chôn nơi đây.
-Theo nguồn tin Báo Thanh Niên (trong nước) ngày 11-8-2007, Tỉnh Bình Dương đã quy hoạch giao 32 trong số 58 ha đất nghĩa trang cho huyện Dĩ An làm nghĩa trang nhân dân và ông Phó Chủ Tịch Bình Dương đã nói: “Tỉnh Bình Dương ủng hộ việc bà con tiến hành chỉnh trang, sửa sang lại những phần mộ ở đây để có một nghĩa trang nhân dân đẹp đẽ” và cũng theo tờ báo nầy “Đó là một biểu hiện cụ thể của chủ trương hoà giải hoà hợp dân tộc một cách thật sự” trong tinh thần nghĩa tử nghĩa tận. Lời tuyên bố của Phó Chủ Tịch Bình Dương rất khớp với lời tuyên bố của Chủ Tịch Nước VN Nguyễn Minh Triết trong chuyến công du Hoa Kỳ vào tháng 6-2007 “…sẽ không có di dời đi nữa và sẽ đồng ý cho tất cả những người có thân nhân chôn cất ở trong đó được phép tái tạo, sửa đổi, trùng tu lại để làm cho tốt đẹp hơn”.

 Theo tài liệu của UBND huyện Dĩ An (Bình Dương) thì hiện tại khu nghĩa địa dân sự xã Bình An (tức NTQĐBH trước đây) có đến 17.000 ngôi mộ, một số còn giữ y nguyên trạng ngôi mộ xây bằng xi-măng, đa phần còn lại, có đến 12.000 ngôi mộ đã bị lấy mất nắp mộ, xuống cấp thấy rõ…cỏ mọc um tùm, hoang sơ, lạnh lẽo…


                                                ***

Diễn tiến trên đây cho tất cả mọi người thấy rõ là Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam đã chính thức xoá bỏ “Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà” (cấp nghĩa trang quốc gia thời VNCH), và bây giờ chỉ là một nghĩa trang cấp xã(nghĩa địa dân sự xã Bình An), khoảng 13.000 tử sĩ VNCH được tạm thời giữ nguyên trạng mộ địa nơi đây….
Theo tờ báo Thanh Niên nói trên, có vài nhà kinh doanh Việt Nam tỏ ý muốn đầu tư, khai thác khu mộ địa nói trên, nhưng UBND tỉnh Bình Dương đã từ chối và quyết định giữ khu đất “NTQĐBH” trước đây làm “NGHIA ĐỊA NHÂN DÂN XÃ BÌNH AN”. Sự việc nầy đã đáp ứng phần nào mong mỏi của thân nhân tử sĩ an giấc ngàn thu nơi đây.
Quyết định trên đây dĩ nhiên không làm hài lòng những người hoạt động chính trị, nhất là đối với quân cán chính VNCH ở khắp nơi trên thế giới và số đông dân chúng trong nước từng có thiện cảm với người lính chiến Cộng Hoà, họ luôn mong muốn Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam cho giữ y nguyên trạng với tên Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà đồng thời cho họ đóng góp trùng tu toàn diện để làm thắng cảnh lịch sử. Nhưng việc nầy đã không thành, vì Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam có cách tính và giải quyết theo đường hướng của họ.
Có nhiều người ước đoán khu “Nghĩa Địa Nhân Dân Xã Bình An” rồi cũng sẽ bị xoá bỏ, vì nó dính dáng một phần quá khứ liên hệ VNCH, với một lý do đơn giản “ Vì nhu cầu chỉnh trang thành phố” hoặc “Vì nhu cầu  phát triễn kinh tế”. Họ nghĩ rằng một ngày “đẹp trời nào đó”, UBND Tỉnh Bình Dương lại ra Quyết Định hay Thông Cáo cho những người có thân nhân chôn tại nghĩa địa xã Bình An phải bốc cốt cải táng một nơi khác thì sao! Cũng đành chịu thôi! Vì quyền hạn trong tay Đảng.

Trước đây, tổ chức Quốc Gia Nghĩa Tử ở hải ngoại, rất lo lắng cho Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà bị xoá sổ, nên ông Nguyễn Duy Linh,Tổng Thư Ký của tổ chức nầy, có liên lạc với Toà Đại Sứ CSVN tại Hoa Thịnh Đốn, trình thỉnh nguyện thư xin đừng xúc phạm hay thay đổi nghĩa trang nầy, cũng như vào tháng 11-2007, ông Nguyễn Duy Linh về Việt Nam để vận động với các cấp chính quyền Cộng Sản để được phép chỉnh trang NTQĐ/ VNCH, nhưng chỉ được Tỉnh Bình Dương cho biết  “Quốc Gia Nghĩa Tử có thân nhân chôn cất ở trong đó  được vào trong đó để xây lại những ngôi mộ bị bể, bị vỡ hay mất bia”. Còn huyện Dĩ An thì cho biết họ có một ngân sách để xây những ngôi mộ đó. Nhưng cũng chỉ nói mà thôi, chưa có hành động nào cụ thể. Về vấn đề nầy, đến nay, vẫn chưa có một quyết định dứt khoát cho phép Quốc Gia Nghĩa Tử xúc tíến việc “trùng tu khu Nghĩa Trang nói trên, ” mà chỉ cho phép Quốc Gia Nghĩa Tử cũng như thân nhân tử sĩ cứ tự do tiến hành việc tu sửa các phần mộ cho thân nhân mà thôi. Cũng trong dịp nầy tổ chức QGNT đã cho thực hiện cuộc tảo mộ đầu tiên.

Bây giờ, việc tranh đấu hoặc thảo luận để bảo tồn khu Nghĩa Trang Quân Đội Miền Nam, khu mộ di tích lịch sử, không còn đặt thành vấn đề, vì Quyết Định nói trên đã nói rõ rồi, một nghĩa địa dân sự xã Bình An, mọi người có quyền vào tu sửa phần mộ của thân nhân, theo như điều I của Quyết Định nói trên ‘‘Đồng ý chuyển mục đích sử dụng 58 ha đất khu nghĩa địa Bình An, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương do Quân Khu 7, Bộ Quốc Phòng quản lý, sang sử dụng vào mục đích dân sự để phát triễn kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương’’, nhưng có một số người mong mỏi là thân nhân hay một tổ chức nào đó, đứng ra lảnh công tác chỉnh trang phần mộ, nên sửa  chữa cách nào cho mọi người nhận biết đó là mộ của người chiến sĩ VNCH, trong ý thức làm hài lòng vong linh người tử sĩ, họ đã hiên ngang chết dưới cờ vì lý tưởng tự do …, theo một hình thức đơn sơ như hàng ngàn ngôi mộ hiện tại, để giữ được nét đồng bộ như trước đây. Nét đẹp và vinh dự của người lính VNCH là ở chỗ đó.  

Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam quyết xoá bỏ, thì toàn dân cũng đành chịu thôi, chỉ tiếc sao Nhà Nước Cộng sản Việt Nam không lãnh hội được cái ‘‘tinh thần’’ của nước Pháp, thời điểm, sau đệ nhị thế chiến, để một nghĩa trang của người Đức được thành lập và tồn tại trên đất Pháp đến ngày nay; rất tiếc Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam không có ‘‘tinh thần’’ như nước Mỹ sau cuộc nội chiến hồi thế kỷ thứ 18, một nghĩa trang Arlington, một nghĩa trang chung dành cho những người lính tử trận của hai bên chiến tuỵến, được xây dựng tại Washington D.C., hay hơn thế nữa, Cộng Sản Việt Nam, cái gì cũng giống Trung Cộng, gần như rập khuôn thế mà điểm Trung Quốc bảo vệ nghĩa trang Hoàng Hoa Cương của Quốc Dân Đảng để cho nghĩa trang nầy trở thành một Danh Lam Thắng Cảnh của Trung Quốc ngày nay, là không giống.
Vì thế chính trị và muốn duy trì chế độ Cộng sản, nên Nhà Nước CSVN quyết xoá tất cả những ‘‘tàn tích’’ chế độ Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam… nhưng  Đảng CSVN cũng chỉ có thể xoá bỏ được những ‘‘tàn dư’’ vật chất như sách báo, nhạc vàng mà CSVN cho là văn hóa đồi trụy hoặc các di tích mang tính biểu tượng tự do, dân chủ… nhưng chắc chắn CSVN không bao giờ xoá được những nét hào hùng của người chiến sĩ VNCH, cũng như lý tưởng tự do dân chủ nằm sâu thẳm trong tâm hồn của những người Việt Nam yêu nước.
Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam cố xoá đi hàng chữ NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI VIỆT NAM CỘNG HOÀ. Nhưng tôi tin chắc rằng người dân miền Nam và có thể cả người dân miền Bắc không bao giờ quên một nghĩa trang có tích cách lịch sử, qui mô về kiến trúc, một hình ảnh đẹp, đã ăn sâu vào tiềm thức của mọi người.
Tôi lấy làm tiếc cho NGHĨA TRANG  QUÂN ĐỘI BIÊN HOÀ không còn nguyên vẹn như ngày xưa, rộng 125 mẫu, bao la, thoáng mát… mà tôi đã có lần nghĩ, nơi đây sẽ  trở thành thắng cảnh lịch sử, một khu mộ địa lớn nhất Đông Nam Á, nằm trên một ngọn đồi không cao lắm, với tượng “Tiếc Thương”, anh lính đồng đen mang nhiều huyền thoại, với Đền Tử Sĩ uy nghiêm, với Nghĩa Dũng Đài ngạo nghễ, với hàng cây “Đường Vào Nghĩa Trang” gió thoảng u buồn, với những ngôi mộ ngay hàng thẳng lối phủ màu tang trắng….
Người chiến sĩ đã thề “da ngựa bọc thây” thì vài thước đất nghĩa trang đối với người tử sĩ đâu có nghĩa gì. Nhưng đối với những người đã một thời là cấp chỉ huy của họ, là đồng đội của họ, là thân nhân của họ phải cố làm sao cho bia mộ của họ tồn tại với thời gian là một việc làm có ý nghĩa…

                                                                                    MỘC ĐÌNH NHÂN
                                                                                    (Ngày 28-2-2008)





Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2015

TÌNH YÊU TRỞ LẠI

TÌNH YÊU TRỞ LẠI

Thương tặng Nguyễn Thị Mừng, em gái của anh, nhân ngày thành hôn 31-08-03 tại  Biên Hòa -Việt Nam.


Ba mươi năm …tưởng chừng đã tắt
Bỗng… mối tình trở giấc, nở hoa
Người xưa gặp lại người xưa
Bao nhiêu tha thiết cho vừa hỡi ai ?

Nước sông Đồng bên trời vẫn chảy
Núi Bửu Long ghi mãi mối tình
Rõ ràng duyên nợ ba sinh
Thì đem hương lửa kết tình trăm năm.

Thời gian có âm thầm chồng chất
Đoá hải đường không mất vẻ tươi
Tình yêu trẻ mãi em ơi
Tình tăng sức sống yêu người yêu ta.

Tiết trời đã vào thu em nhẻ
Gió heo may khe khẽ lạnh lòng
Mừng em hương ấm tình nồng
Mừng em, em đã có chồng hôm nay.

                               Thế Nhân

                                (12-08-03)

Thứ Năm, 22 tháng 10, 2015

BÀ BA BÁN CHUỐI CHỢ BIÊN HÒA

Những ai ở chung quanh chợ Biên Hoà hoặc hằng ngày đi chợ… đều biết bà Ba Bán Chuối. Gian hàng chuối của bà Ba đặt tại phía đầu chợ trên, khoảng ngang  nhà sách Huỳnh Hiệp đường Lê Văn Lễ Biên Hoà .

 Bà Ba không những bán chuối mà còn bỏ mối nhiều loại trái cây cho những người bán lẻ trái cây quanh chợ Biên Hoà. Riêng tại gian hàng, Bà Ba chỉ bán thuần các loại chuối sứ, chuối cao, chui bôm, chuối lửa, chuối già, chuối chà bột v…v.. Có thể nói, các loại chuối tại gian hàng bà Ba tương đối ngon và rẻ hơn các gian hàng khác, nên bà Ba bán rất đắt hàng….

Một bà bán chuối thì có điều gì đáng nói phải không các bạn? - Điều đáng nói ở đây… bà Ba là má tôi, một bà mẹ khổ cực, truân chuyên nhất chợ Biên Hoà. Nếu tôi là thi sĩ tài ba, tôi sẽ viết một bài thơ thật tuyệt để ca tụng Bà, hoặc nếu tôi là người biên kịch giỏi, tôi sẽ soạn một vở kịch thật hay, cho nhân vật diễn tả tỉ mỉ những điều thống khổ của Bà ….kể lại từng quãng đời chịu nhiều sóng gió, gian truân và khổ hạnh của Bà, nhưng  rất tiếc tôi không phải là thi sĩ mà cũng không phải là nhà biên kịch, tôi chỉ xin viết về Bà bằng một đoản văn theo lời kể của Bà vào một năm rất xa xôi, cách nay hơn năm mươi năm, khi chỉ có hai mẹ con ngồi bên nhau nơi gian hàng chuối vào một buổi chiều mưa tầm tã.
 Bà kể rằng: “Má sanh quán ở làng Tân Ba, một làng quê hẻo lánh thuộc quận Tân Uyên tỉnh Biên Hoà, khi Má lên sáu tuổi thì mồ côi cha…hai năm sau, bà ngoại tái giá, gia đình sống nhờ vào hai con trâu và vài sào ruộng…mặc dù cơ cực nhưng đời sống vẫn có niềm vui.

Má không hiểu tại sao, vào một ngày mưa gió bão bùng, bà Ngoại lại đem bán má cho một người đàn ông xa lạ, sống nghề hạ bạc, thường ngày xuôi ngược trên sông nước Đồng Nai. Một người đàn ông không vợ, không con, thích uống rượu, sáng xỉn, chiều say ….Mỗi lần ông ấy say rượu là má bị ông ấy đánh thê lương, và thường, sau khi đánh má, ông ấy ấn đầu má vào cánh cửa sổ ghe, khép xiết chặt nơi cổ má, với tư thế thân người bên trong ghe, còn cái đầu thì kẹt phía ngoài sông nước, thật là một cực hình thương đau cho một đứa trẻ mồ côi. Thời gian sống với ông ta, má rất khổ sở và đến nay má vẫn thắc mắc “Tại sao má mình không nuôi mình mà l ại bán mình cho người xa lạ?” – Lúc đó má 8 tuổi, có thể chăn trâu hoặc phụ giúp việc nhà. Và Bà Ngoại bán má vì tiền hay vì một lý do nào khác ? Ông Ngoại kế không hề ghét má, mà tại sao bà Ngoại lại bán má cho người khác, trong khi đó bà Ngoại lại phải mướn một đứa trẻ khác giúp việc chăn trâu?  Hay có lẽ trâu không cần người giữ cũng nên!? Lúc đó, má buồn vô kể con ơi! Quyết định của bà Ngoại đã khiến má đứng lặng người như chết, thở không ra hơi, rồi cũng đành khắn gói quả mướp theo người xa lạ, vừa đi vừa khóc, mẹ mình nở dứt bỏ tình ruột thịt….rồi sau đó, má nghĩ chắc tại số phận của má hẩm hiu, đành phải chịu vậy thôi…
Dòng đời bất hạnh lặng lẽ trôi qua, bỗng một hôm trời nắng đẹp, có một người đàn ông khác thấy tình cảnh của má đáng thương, nên hỏi mua má, và cuộc ngã giá bắt đầu
-Chú Tám à! Chú nuôi con bé nầy mà chú không thương, cứ đánh nó hoài thì chú bán nó lại cho tôi đi, tôi sẽ trả cho chú có lời… Thật sự, má không biết tên người cha nuôi thứ nhất, chỉ nghe thiên hạ gọi là ông Tám và cũng không nhớ rõ số tiền mua bán má lúc bấy giờ là bao nhiêu. Thế là má bị bán sang tay cho một người đàn ông khác để làm con nuôi, nhưng thực tế chẳng khác nào một con ở đợ…tuy nhiên, Má rất mừng, vì đã thoát khỏi bàn tay ác độc của người cha nuôi thứ nhất…. Ông Tư, người cha nuôi thứ hai, đưa má về nhà, một ngôi nhà khá rộng rãi, toạ lạc phía sau nhà hàng Ông Năm Tao (sau nầy đổi tên là Hạnh Phước) Biên Hoà …
Hai vợ chồng, cha mẹ nuôi của má không có con ruột, nhưng đã có một đứa con gái nuôi, trước khi má về làm con gái nuôi thứ hai. Ông ấy đặt tên cho má theo họ của ông ấy, là họ Hà. Và sau khi nhận hai đứa con gái nuôi thì người mẹ nuôi của má sanh được nhiều người con. 
  -Nhà của ba nuôi của má ở gần chợ và hằng ngày, từ sáng sớm, má đã phải ra chợ, gánh nước mướn từ sông Đồng Nai lên cho bạn hàng bán tôm cá, trưa về lo cơm nước, giữ em, tối đến thì đi may đồ mướn  - Vào năm 1910-1915, Biên Hoà chưa có nhiều tiệm may và máy may, nên về đêm má đi may vá mướn quần áo cho những người bình dân, nghèo khổ , má may tay và may rất khéo các loại áo túi , áo bà ba và quần đen đáy giữa hoặc đáy lá nem.
Đời sống tương đối thoải mái, không bị đánh đập như lúc còn ở với ông Tám, người cha nuôi thứ nhất của má, nhưng cũng vô cùng vất vã, làm việc cả ngày, không có lúc nào được rãnh tay…

Vì thế, khi Má 18 tuổi, có một người Ấn độ làm nghề góp tiền chỗ (thu hoa chi) đến dạm hỏi, xin cưới má, thì má ưng ngay, mục đích lấy chồng của má là mong có sự đổi đời, có cuộc sống tự lập và có cơ hội vươn lên… Nói là lấy chồng nhưng thực tế má bị bán lần thứ ba, vì người cha nuôi của má đã thẳng thắn đặt vấn đề với người dạm hỏi …
“-Hồi đó tôi mua nó bao nhiêu, nuôi nó tốn bao nhiêu, bây giờ gả nó, tôi phải lấy số tiền đó lại (Má tôi chỉ kể thoáng qua đoạn nầy, không nói chi tiết… nhưng chắc chắn người đâu tư nào cũng muốn thu nhiều lợi nhuận , càng nhiều càng tốt, nhất là bán một phụ nữ tuổi đang xuân cho người ta đem về thương yêu và làm vợ thì nhiều khi lại có giá cao không thể tưởng….Thật là đau thương cho má của tôi)”

Trong thời Pháp thuộc, cuộc sống của mọi người cực khổ nhiều hơn sung sướng, nhưng rất may cho Má, sau khi có chồng, Má có được một đời sống khá ấm no, không nhọc nhằn, long đong như thuở trước, thì bỗng một ngàymá ruột của má, tức bà ngoại của con, xuất hiện, tìm gặp má…má nhìn bà ngoại với đôi mắt lạnh lùng, hờ hững, trong lúc má vừa sanh một đứa con gái đầu lòng …
Bao nhiêu tủi nhục, đau buồn chất chứa trong lòng Má mười mấy năm qua đã vùng lên, khiến má khóc ngất và thốt lên…
“Má tìm tôi làm chi? Má đã bán tôi cho người ta rồi. Tôi vất vã bao lâu nay má  làm gì không biết? Má thỉnh thoảng cũng có đi chợ và má cũng biết tôi sống cơ cực như thế nào? Má đã nở bỏ quên tôi, bây giờ má nghe tôi có chồng giàu, má tìm đến…Tìm đến để làm gì?
Bà Ngoại đứng lặng thinh và sau đó khóc sụt sùi.  Phần má, sau khi tuôn ra được những dòng nước mắt ấm ức bấy lâu …má cảm thấy lòng má được nhẹ nhàng, thanh thản hơn bao giờ.  Má buồn tủi vì đã trải qua ba lần bị mua bán, mà người bán má đầu tiên là mẹ ruột của mình….nhưng nghĩ cho cạn cùng, dù sao thì bà Ngoại cũng là người đã sanh ra má…nên má đã tự nhiên giãm đi lời cay đắng đối với bà Ngoại và đã bỏ qua tất cả uất tức mà má đã ôm ấp từ lâu và giờ đây, má phải cố quên và tha thứ để có niềm vui sống …”

Tôi thật ngỡ ngàng xúc động khi nghe Má tôi kể lại quãng đời sóng gió, gian truân mà Bà. Đang lúc tôi ngùi ngùi muốn khóc thì Má tôi kể tiếp…
“Má sinh ra chị Hai con nhưng không nuôi được. Rồi sau đó Má sinh tiếp một người anh trai, cũng không nuôi được, nên chồng của Má không vui, nhưng Má vẫn được  chăm sóc chu đáo, cuộc sống có thể nói là nhàn hạ, vô ưu… và rồi Má lại có bầu lần thứ ba.  Trong lúc đang mang bầu thì Biên Hoà xẩy ra một trận lụt lớn, ngậpkhắp khu chợ…Lúc nước rút hết và chợ nhóm lại, thì tất cả bạn hàng trong chợ cùng nhau xin được miễn hoa chi (không biết khoảng bao lâu). Vốn có lòng nhân từ nên chồng Má chấp thuận lời yêu cầu miễn thu thuế.  Không thu thuế thì tròn nhân đức đối với bạn hàng, nhưng bị coi là không làm tròn trách nhiệm đối với ông chủ lớn ở Sàigòn. Sau đó, chồng của Má, vì sợ bị truy tố về tội miễn thuế hoa chi cho bạn hàng và không biết là đứa con trong bụng Má có nuôi được hay không, nên chồng Má lặng lẽ bỏ má, mà trở về xứ Ấn Độ của ông ta.
Vậy là cuộc sống ấm êm qua nhanh như cơn gió thoảng. Má lại phải một mình lo liệu những tháng ngày sắp tới, phải một mình sinh con và tự lo liệu đời sống cho hai mẹ con trong cảnh đơn chiếc. Rất may, Má sinh lần nầy được một đứa con trai, rất kháo khỉnh, khoẻ mạnh, giống cha như đúc, nhưng lại không có cha….
Thế là mẹ goá con côi, Má phải buôn tần bán tảo, sống cảnh cơ hàn tháng lụn ngày qua.   Đến ba năm sau, Má tái giá…..mong có được tấm chồng tốt để được phụ giúp nuôi con và che chở trong tháng ngày còn lại….Nào ngờ số đoạn trường cứ dai dẳng đeo mang, má lấy nhầm một ông chồng làm việc thì ít, mà nhậu nhẹt thì nhiều… 
Để có thể nuôi các con ăn học nên người, Má phải chấp nhận tiếp tục bán tảo buôn tần nuôi chồng nuôi con…Với ông chồng nầy, Má hạ sanh được một gái và ba trai. Người con gái tức chị Ba của con, rất ngoan, chấp nhận hy sinh tuổi hoa niên, phụ má buôn bán để nuôi anh và các em ăn học. Má và chị Ba của con dốt đặc đến độ không biết mặt chữ I chữ tờ là thế nào hết…Riêng người chồng của Má, v ì uống rượu nhiều quá nên mang bịnh và qua đời.

“-Ba lần bị mua bán thì sao lại không thể có ba đời chồng?
Ba năm, sau khi chồng của Má mất, Má bước thêm bước nữa ….người đó là ba của con một hạ sĩ quan trong một đơn vị Pháp . Ở với ba của con trong khoảng thời gian từ năm 1940-1954, má cũng vẫn sanh sống với nghề buôn bán, nhưng có phần nhàn hạ hơn… mặc dù Ba của con không cho má một đời sống sung túc, giàu sang, nhưng Ba của con rất thương yêu má, má cảm thấy có hạnh phúc trong tình nghĩa vợ chồng ấm êm…..Chuyện sau nầy thì con đã biết, má không cần nói nữa.”

Má tôi, một cô bé 8 tuổi bị mẹ bán đi, rồi qua bao cay đắng, đoạn trường. Bà không biết đọc, biết viết, nhưng bà hiểu rõ giá trị của sự học và đã cố gắng cho tôi ăn học thi vào trường Gia Long, miệt mài đèn sách bảy năm.
Lăn lốc giữa chợ đời, má tôi chọn sự thật thà trong buôn bán, tuyệt đối không buôn bán những mặt hàng có sự  “cân, đo và đong” mà chỉ bán nhưng mặt hàng “ thấy rõ và đếm được”. Má tôi quan niệm, cái lít, cây thước và cái cân có thể ăn gian nếu mình muốn, bằng cách đong hoặc đo hoặc cân nặng tay hoặc nhẹ tay….còn  mặt hàng đếm thì không thể ăn gian được…

Tuy dốt chữ nhưng má tôi hiểu được giá trị của sự học vấn và giá trị của sự thật thà, nên bà đã cố gắng giữ lòng ngay thẳng và xoay sở  bán buôn , cần kiệm để nuôi con ăn học nên người hữu ích trong xã hội.
Năm 1982, Má tôi bị tai nạn xe đụng rất hy hữu, do một thanh niên lái xe gắn máy ẩu tả ,chạy lủi vào cổng nhà, đụng phải má tôi đang ngồi trên chiếc ghế thật thấp, té ngồi xuống đất, rất nhẹ ,nhưng bị  gãy cổ xương đùi…. lúc đó má tôi đã 82 tuổi rồi,…  rất may, nhờ  người  bạn, anh Nguyễn Thành Bảo, Trung uý  Không quân Biên Hoà , có tay nghề bó thuốc gãy xương với bài thuốc gia truyền của thân phụ anh là “Bác Hai Hứng” để lại…. chỉ trong vòng bốn tuần lễ là lành vết thương và tập đi -  một bài thuốc bó gãy xương rất thần diệu…..

Năm 1989, Má tôi vĩnh biệt cuộc đời vì chấn thương sọ não,trong một tai nạn giao thông trên đường Nguyễn Hữu Cảnh Biên Hoà, do một cán bộ đương thời, lái xe gắn máy bất cẩn đụng phải, rồi sau đó lẻn đi, lẫn trốn trách nhiệm. Má tôi qua đời cách nay đã hai mươi hai năm. Tôi đã thật sự mồ côi cha lúc tôi mười ba tuổi và mồ côi mẹ lúc tôi bốn mươi tám tuổi đời, nhưng trong lòng tôi lúc nào cũng có mẹ - T ôi tin tưởng Má tôi lúc nào cũng ở bên cạnh tôi, giúp đỡ, phù hộ tôi qua từng bước khó khăn trong cuộc đời - Mẹ là kim cương, mẹ là vàng khối của đời tôi.

Bà Ba bán chuối chợ Biên Hoà được nhiều người biết đến qua tánh tình ngay thẳng và thật thà trong việc mua bán….hằng ngày vui vẻ tiếp đón khách hàng  đến mua chuối của bà, chứ ít ai biết cuộc đời rất ư là khổ cực, truân chuyên của Bà . Bà bị bán chuyền tay đến ba lần và ba lần lận đận trong việc hôn nhân…Nỗi lòng thầm kín uất nghẹn của Bà được trao cho đứa con út trong ba dòng con, cũng là đứa con duy nhất với người chồng sau cùng tên Trần Công Thông, nguyên quán quận Phong Điền thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế, một hạ sĩ quan thời Pháp thuộc và đã tử trận tại Điện Biên Phủ vào năm 1954.

Bà là người mẹ tôi yêu kính nhất đời.  Tôi biết không phải chỉ một mình tôi nhớ thương Bà, mà chồng tôi và các con của tôi cũng rất nhớ thương Bà, vì bà đã đem lại nguồn vui và hạnh phúc cho tất cả, khi bà còn sanh tiền, tình thương yêu bà đối với chúng tôi rất đậm đà, thân thiết.
Trên thế gian nầy, không có một thứ tình thương yêu nào được ví bằng tình mẹ thương con và con thương yêu cha mẹ. Riêng tôi, tôi đã thương yêu Má tôi với một tình thương yêu vô bờ bến và tôi rất cảm phục Má tôi đã có một ý chí kiên cường, vì theo tôi, trên cuộc đời nầy không có một người phụ nữ nào khổ hạnh hơn Má tôi, nhưng Bà vẫn ung dung chấp nhận dấn bước trong khổ hạnh và lấy khổ hạnh cuộc đời làm nguồn vui và lẽ sống.
Hôm nay, trời Chicago đang giá buốt, một màu trắng xoá khắp nơi và tuyết vẫn đang rơi….tôi chạnh nhớ đến Má tôi, nhớ lời tâm sự của Bà gửi gắm cho tôi cách nay hơn năm mươi năm mà cảm thương Bà vô cùng và cũng nhân sắp đến ngày Lễ Mẹ, Mother’ Day, tôi viết bài nầy gọi là nén hương lòng tưởng nhớ,  kính dâng hương hồn Má tôi đang ở một phương trời Tịnh Độ xa xôi nào đó hoặc đã đi đầu thay kiếp người, đang sống trong bình an và hạnh phúc.
                                                   Chicago, ngày 10 tháng 2 năm 2011

                                                                        Trần Hà Lộc

TƯỞNG NHỚ NHÀ VĂN BÌNH NGUYÊN LỘC...

Tưởng Nhớ Nhà Văn BÌNH NGUYÊN LỘC
và Một Chút Nhớ Về Người Bạn Gái Ngày Xưa


         Hôm Chúa Nhật ngày 6-3-2005,trong buổi tiệc họp mặt đồng hương Biên Hoà tại nhà một người bạn tại thành phố Chicago, tôi có dịp nghe bản nhạc Dò Dọc do nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng sáng tác phỏng theo tập truyện dài cùng tên Đò Dọc của nhà văn Bình Nguyên Lộc, trong một băng nhạc Paris By Night, do hai ca sĩ Thanh Tuyền và Sơn Tuyền trình bày rất duyên dáng trong lời dân ca êm dịu..
                  ‘Có một gia đình trung lưu trí thức
                  Từ bỏ ngôi vôi về với ruộng đồng
                  …
                  Cô hứa thôi thời mình nên ở giá
                  Trung hiếu cho tròn tình mẹ nghĩa cha’.

         Trong bầu không khí đang vui, tôi bỗng ngùi ngùi nhớ đến nhà văn Bình Nguyên Lộc, một  nhà văn xứ Bưởi. Tôi bâng quơ nhìn lên tấm lịch treo tường và nhận ra ngày mai là ngày giỗ thứ mười tám của nhà văn Bình Nguyên Lộc, sở dĩ tôi nhớ ngày nầy là vì ít có người  được như BNL, sanh tử cùng ngày.  Ông sanh ngày 7-3-1914 tại Tân Uyên Biên Hoà, Ông mất ngày 7-3-1987 tại Sacramento / California.
 Hôm nay(7-3-2005) tôi viết mấy dòng nầy để tưởng nhớ nhà văn Bình Nguyên Lộc và cũng để nhớ về một người bạn gái xa xưa, ở cùng xóm với tôi, cô gọi Bình Nguyên Lộc bằng bác. Nhờ cô mà tôi đọc được nhiều tác phẩm của nhà văn BNL.
                                            
Nói đến nhà văn Bình Nguyên Lộc thì lắm người biết, lắm người thương vì ông là một nhà văn lớn của Việt Nam, nổi tiếng từ thập niên 50. Ông viết rất đều đặn và đã cho xuất bản đến ba mươi tác phẩm. Văn của BNL hay, gọn, bình dân, dể hiểu nên được nhiều người yêu thích.
              Biết bao nhiêu người đọc say sưa các tác phẩm của Bình Nguyên Lộc, nhưng ít người biết gốc gác của BNL. Tôi rất may, được biết nhà văn BNL gốc người Tân Uyên/Biên Hoà rất sớm, nhờ cô bạn gái ở cùng xóm chợ Biên Hoà. Thỉnh thoảng cô cho tôi mượn rất nhiều sách để đọc. Nhà cô có một tủ sách, gồm đủ loại , phần nhiều là tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn và có cả các loại báo cũ, như Hà Nội Báo, Tiểu Thuyết Thứ Bảy xuất bản tại Hà Nội, loại hai xu, khổ lớn trang bìa có  hình một bức tượng bán thân…
 Có lần tôi vui miệng hỏi lý do nào cô đã sưu tầm hầu như gần đủ bộ tiểu thuyết của BNL. Cô bạn tôi chậm rãi trả lời rằng:"Tôi yêu thích văn của BNL, vì Ông là nhà văn xứ Bưởi, cùng quê với tôi. Ông sanh quán ở Tân Uyên/Biên Hoà và ông còn là bác của tôi…". Cô bạn tôi tỏ rõ niềm hãnh diện vì có người trong họ là một nhà văn nổi tiếng, nhà văn xứ Bưởi, làm tôi cảm thấy vui lây. Từ đó, tôi bắt đầu ngưỡng mộ nhà văn BNL. Tôi lần lượt mượn lại những tác phẩm của BNL mà tôi đã có dịp đọc qua để đọc lại kỹ hơn. Tôi tìm hiểu và được biết BNL tên là Tô văn Tuấn, sinh ngày 7-3-1914 tại Tân Uyên Biên Hoà, là bác của cô bạn gái tôi tên Tô Y.N.  Tôi chưa được hân hạnh một lần diện kiến nhà văn, chỉ ‘văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình’, mãi về sau nầy có dịp đọc quyển ‘Cuống Rún Chưa Lìa’, thấy nơi trang bìa sau quyển truyện nầy có hình của nhà văn BNL, có gương mặt giống hệt của ông Tô văn Sáu tự Sáu Tỏn, làm việc trong ban chấp hành nghiệp đoàn xe LÔ (location) đưa rướt hành khách Biên Hoà – Saigòn, và ở phía sau nhà tôi, khu rạp hát Vạn Khánh Hưng góc đường Phan Chu Trinh và Lý Thường Kiệt(BH). Tôi đoán BNL là anh ruột hoặc anh chú bác với ông Tô văn Sáu, nên có lần tôi hỏi ông Sáu và được ông xác nhận BNL là anh của ông ta.
              Thuở đó tôi cố đọc và cố nhớ nhiều về các tác phẩm của nhà văn BNL chỉ với mục đích chực chờ người bạn gái tôi hỏi mà trả lời về cốt chuyện, tình tiết, lời văn…như học trò trả bài cho cô giáo vậy.
              Thời gian lặng lẽ trôi qua, vào một buổi sáng đẹp trời ngày chúa Nhật cuối năm 1957, cô bạn gái của tôi sang thăm tôi với vẻ mặt buồn buồn, lời nói và cử chỉ không tự nhiên như những lần cô mang sách đến cho tôi mượn trước đây, lần nầy cô bạn mang đến cả hai chồng sách, được cô gói cẩn thận và nói xin biếu tôi để đọc lâu dài, xong cô nàng chào tôi và ra về. Tôi đoán, chắc có chuyện gì xảy ra. Tôi vội mở hai chồng sách ra, thấy những quyển sách quen thuộc tôi đã từng đọc qua. Trong mỗi quyển sách đều có ghi ngày cô cho tôi mượn và ngày tôi trả và có chữ ký tắt L+N tên tôi và tên cô bạn. Tôi vội giở nhanh từng trang sách như cố tìm một cái gì. Khi giở đến quyển Trăm Nhớ Ngàn Thương của BNL, bên trong có một giấy màu xanh dương nhạt xếp đôi, cô nàng viết:"Anh Lộc thương!  Em hiểu lòng anh, và chắc anh cũng hiểu được lòng em, chúng ta chưa một lần nói tiếng yêu nhau, nhưng qua biểu hiện tình cảm, ánh mắt, nụ cười, phút giây chờ đợi, cho em đoán rằng trong lòng chúng ta đã có sự thầm kín mến thương nhau. Nay ba má em quyết định gả em lấy chồng, nói là em đã lớn, đã hai mươi tuổi rồi. Thật tình, em chẳng biết tính sao, đành cúi đầu vâng lệnh. Mong anh hiểu lòng em . Xin chào vĩnh biệt". Tôi cầm lá thư trong tay mà hồn tôi như đã lạc phương nào, chỉ nghe trong lòng đang vời vợi một nỗi buồn xa vắng. Cô bạn cắt đứt quan hệ với tôi, rời bỏ xóm làng, đi lấy chồng, thật ra chẳng có gì đáng trách. So sánh cảnh sống thuở ấy của tôi và hoàn cảnh của nàng,  tôi đoán chắc sẽ có ngày nầy, ngày nàng nói lời chia tay vĩnh biệt với tôi.Chuyện gì đến đã đến, coi như mọi việc đã an bài. Tôi chỉ thoáng buồn và tiếc là phải xa cách một người bạn tốt. Một năm sau, tôi được một người hàng xóm báo tin sắp đến ngày lễ vu qui của cô bạn, tôi từ phương xa trở về đúng lúc. Tôi đến nhà người hàng xóm có cửa sổ trông sang nhà cô bạn, tôi lén vẫy tay chào cô và thầm chúc cô hạnh phúc.
 Sau nầy, tôi biết tin cô bạn ngày xưa của tôi trở thành một goá phụ rất sớm, ở độ tuổi hai mươi lăm, tuổi xuân còn nồng đượm, nhưng cô quyết thủ tiết thờ chồng, ở vậy nuôi ba đứa con ăn học nên người. Khoảng năm 1987 tôi có dịp gặp lại cô bạn và được cô cho biết nhà văn BNL đã qua đời bên đất Mỹ, sau khi ông sang định cư tại đây được hai năm.
Cô bạn tôi hiện đang sanh sống ở Việt Nam, dù xa xôi, tôi vẫn ghi lòng biết ơn cô, nhờ cô mà tôi có dịp đọc nhiều tác phẩm của Bình Nguyên Lộc.
Nay tôi viết mấy dòng chữ nầy coi như nén hương lòng của tôi, một người dân xứ Bưởi kính dâng nhà văn xứ Bưởi Bình Nguyên Lộc trong niềm hãnh diện và thương tiếc Ông nhân ngày kỷ niệm năm thứ 18 Ông vĩnh biệt cuộc đời trên đất Mỹ. Ông để lại cho đời những ba mươi tác phẩm sau đây:
 
-Nhốt Gió                          -Xô Ngã Bức Tường Rêu
-Dò Dọc                            -Gieo Gió Gặt Bão
-Ký Thác                                    -Nhện Chờ Mối Ai
-Bóng Ai Qua Song Cửa     -Ái Ân Thu Ngắn Cho dài Tiếc Thương
-Hoa Hậu Bồ Đào               -Nửa Đêm Trăng Sụp
-Tâm Trạng Hồng              -Đừng Hỏi Tại Sao
-Mưa Thu Nhớ Tằm            -Một Nàng Hai Chàng
-Quán Tai Heo                   -Trăm Nhớ Ngàn Thương
-Thầm Lặng                       -Uống Lộn Thuốc Tiên
-Cần Giờ                           -Diễm Phương
-Sau Đêm Bố Ráp              -Cuống Rún Chưa Lìa
-Khi Từ Thức Về Trần         -Lột Trần Việt ngữ
-Tình Đất                                  
-Những Bước Lang Thang Trên Phố của Gã BNL
-Ngồn Gốc Mã Lai của Người Dân Tộc Việt Nam

              Là người Biên Hoà, đang sống nơi hải ngoại, ta nên tìm đọc những tác phẩm trên đây của BNL, để có dịp tiếc thương Ông và nhớ về cội nguồn, miền Sông Đồng Núi Bửu. Trong 30 tác phẩm trên đây có một số quyển như quyển Cuống Rúng Chưa Lìa đã vượt ra khỏi lãnh vực văn chương, trở thành phương thuốc,  có thể chữa cho những ai đang mang Nỗi Sầu Xa Xứ.

                                                           Nguyễn Kim Lộc
                                                    (Chicago, ngày7-3-2005)