Thứ Năm, 22 tháng 10, 2015

DƯƠNG QUÂN, NHÀ THƠ XỨ BƯỞI

DƯƠNG QUÂN NHÀ THƠ XỨ BƯỞI

Nhờ nhà thơ Hoàng Ánh Nguyệt giới thiệu, tôi hân hạnh nhận được ba tập thơ Chập Chờn Cơn Mê, Trên Đỉnh NhớĐiểm Hẹn Sau Cùng do thi sĩ Dương Quân gửi tặng vào những ngày chớm thu năm 2010.

Tôi rất vui mừng khi biết Dương Quân là người xứ sở Biên Hoà. Ba tập thơ trình bày trang nhã do tác giả tự xuất bản theo sự khuyến khích của rất đông bạn bè và sự trợ giúp trực tiếp của nhiều người:
- Dương Thị An Xuyên (Con gái của Dương Quân đã vĩnh viễn xa lánh cuộc đời ở tuổi 36, khi còn độc thân với tâm hồn trong trắng), khi còn sinh tiền, đã truy tìm và chép lại, trong “tàng thư” của Dương Quân, những bài thơ, Dương Quân viết từ thời còn học trường Pétrus Ký, với bút hiệu Kỳ Linh.
- Trương Vĩ Trí và Phạm Thành Châu (đều là đồng môn Học Viện QGHC) chăm sóc việc ấn loát
- Nguyễn Thế Sanh giúp việc đánh máy và lập hồ sơ….
-Trần Hoài Thư giúp việc trình bày
Và rất nhiều bè bạn khích lệ, động viên, góp ý qua các bài cảm nghĩ, lời bạt, hoặc những vần thơ xướng hoạ, hoặc đề thơ tặng…..

Khi đọc qua ba tập thơ nói trên, tôi rất cảm phục Dương Quân, không phải ở sự gói ghém tâm tình hoặc kỹ thuật về thơ, mà ở tính chất giản dị của câu thơ và giọng văn  khoáng đạt, gợi lên nhiều hình ảnh cùng màu sắc, diễn tả được nỗi lòng, Dương Quân muốn gởi gắm vào thơ, từ tinh thần trách nhiệm của một viên chức cao cấp thời VNCH, đối với tổ quốc và nhân dân; lòng tự trọng và quí mến bạn bè, cũng như ý thức bổn phận đối với mẹ già, tình thương đối với người chị và tình nghĩa  đối với vợ con, và đặc biệt, trong mỗi bài thơ của Dương Quân  đều có bố cục hẳn hoi, ý tứ trong sáng theo từng chủ đề rõ rệt.

Mỗi tập thơ của Dương Quân là một khoảnh khắc tâm tình của một thời điểm nhất định và ba tập thơ nói trên đã kết thành một chuỗi dài tình cảm, lung linh qua từng giai đoạn của cuộc đời Dương Quân từ thuở còn là một cậu học sinh trường Trung Học Pétrus Ký, qua thời kỳ công chức, đến thời gian tội tù và những năm tháng lưu vong nơi xứ người.

Tôi đoán Dương Quân đã tốn không ít tài chánh trong việc in ấn các tập thơ trên và cước phí bưu điện gởi tặng đến tay bạn bè….do đó khi nhận được các tập thơ, bạn bè cảm kích và đáp lễ lại bằng cách viết lời nhận xét chân thành, bài cảm nghĩ về Thơ Dương Quân, hoặc làm một bài thơ hoặc hoạ lại bất cứ một bài thơ nào đó trong số các bài thơ của Dương Quân.  Riêng tôi nhận xét về thơ Dương Quân: giản dị, mộc mạc, dễ hiểu nên được nhiều người mến mộ.

Tập “Chập Chờn Cơ Mê” gồm Lời Tựa của Dương Quân, lời Cảm Nghĩ của thân hữu, 14 bài thơ Tuổi Học trò & Tuổi Đôi Mươi, 11 bài thơ Tuổi Vào Đời & Ở Tù, 14 bài thơ Thuở Sống Ly Hương – Tái bản 6 lần. Bài thơ khai tập có tựa: CHẬP CHỜN CƠN MÊ
                     Ta ngồi viết cho em
                     Trang thư đầy nhung nhớ
                     Đêm nầy như mọi đêm
                     Ta âm thầm lặng lẽ

                     Điếu thuốc tàn trên tay
                     Em mơ màng trong khói
                     Nửa chừng ly rượu cay
                     Vẳng nghe lời em nói

Từ bên bờ đại dương
                     Thì thầm tiếng song vỗ
                     Ta làm mây lang thang
                     Tìm em qua hơi thở

                     Em giấc ngủ nồng say
                     Chiêm bao miền cát trắng
                     Ta bơ vơ chốn này
                     Khi hoàng hôn tắt nắng

                     Ta làm anh cuồng sĩ
                     Sống trọn đời lưu vong
                     Nợ tình còn dang dở
                     Nợ nước chưa đền xong

                     Ta chợt hiểu kiếp người
                     Rong rêu chìm vực thẳm
Ta chợt hiểu tình em
                     Héo khô làn môi thắm

                     Và từng đêm khuya vắng
                     Ta mơ dáng em về
                     Đoá hoa hồng hé nở
                     Chập chờn trong cơn mê

                     Ta hỏi lòng có phải
                     Em đến tự ngàn xưa
                     Chiếc ngai vàng thuở ấy
                     Trong tim ta bây giờ?

          Bài thơ trên đây diễn tả tâm sự tác giả, từng đêm, ngồi viết thư cho “Em” trong niềm nhớ thương vô hạn, bên điếu thuốc đã tàn và bên ly rượu đã vơi, trong trạng thái chập chờn, nửa mê nửa tỉnh, mơ màng hướng vọng về “Em” , “Ta mơ dáng em về - Đoá hoa hồng hé nở” và chợt thương cho phân phận chính mình trong số kiếp lưu vong “ Nợ tình còn dang dở - Nợ nước chưa đền xong”. Thường trong chập chờn cơn mê, người ta thấy những điều không thực, hình ảnh mơ hồ, nhưng chắc chắn là những hình ảnh đẹp, nên người ta không muốn rời những hình ảnh ấy, cứ như muốn bám díu, nên sanh ra trạng thái chập chờn nửa tỉnh nửa mê “Em mơ màng trong khói”…“Vẳng nghe lời em nói” giống như tâm trạng của Quang Dũng, một thi sĩ nổi tiếng thời tiền chiến, đã từng viết “Thoáng hiện em về trong đáy cốc - Nói cười như chuyện một đêm mơ”, rồi Dương Quân kết luận dứt khoát “Em” vẫn là hoàng hậu ngự trị giữa tim nầy… “Em” ở đây có thể là một người đẹp mà cũng có thể là chính thể tự do của miền Nam trong quá khứ (?).
         

Tập “Trên Đỉnh Nhớ” gồm 53 bài thơ Dương Quân, 7 bài thơ hoạ của bạn bè, 13 bài thơ cảm tác về thơ DQ do bằng hữu tặng, 5 bài viết cảm nghĩ về về thơ DQ của thân hữu nhận xét. Bài thơ khai tập:
                     TRÊN ĐỈNH NHỚ
                     (Tặng Hoàng Hạc)
                               Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản
                                         Bạch vân thiên tải không du du
                                                                                  Thôi Hiệu

          Từng trên đỉnh nhớ lưng trời
          Tiếng chim Hoàng Hạc vọng lời tri âm
          Chập chùng ảo ảnh cao thâm
          Núi se dòng lệ, sương giăng nẻo buồn
          Ơi người! Gieo hạt tơ vương
          Qua cầu mấy nhịp đoạn trường sóng reo
          Nhân gian dường cũng tiêu điều
          Ngóng mong Hồng Hạc bóng chiều chênh vênh
          Tà huy rớt xuống đầu ghềnh
          Dặm trường lữ khách buồn tênh nhớ người
          Câu thơ ai viết ngậm ngùi
          Cho lòng khắc khoải, cho đời héo hon.

                     Bài thơ trên, cho ta thấy tác giả đã lên chót vót đỉnh cao của sự nhớ nhung, như một cuồng sĩ khát vọng lời của tri âm, từ phương trời xa vọng lại, trong nỗi sầu ưu. Tác giả cảm thấy buồn cho bản thân qua nhiều quãng đoạn trường nhân thế và cũng buồn cho nhân gian đang chìm trong tiêu điều xơ xác
                              
Tập “Điểm Hẹn Sau Cùng”gồm 20 bài thơ của Dương Quân, 29 bài thơ của bạn bè hoạ thơ Dương Quân, 4 bài cảm nghĩ của  4 Giáo sư Tiến sĩ, 36 bài Cảm Nghĩ hoặc Lời Bạt về thơ Dương Quân của các nhà văn, nhà thơ hoặc đồng môn Học Viện QGHC của Dương Quân.
                               ĐIỂM HẸN SAU CÙNG
          Ta ở nơi nầy
          Miền biển vắng
          Thuỳ dương lả ngọn triệu năm dài
Chập chùng sóng phủ buồn lên cát
Tiếp nối khôn cùng nhịp chuyển xoay

Người ở bên kia
Vùng phố thị
Dòng đời xuôi ngược, gót bon chen
Sớm chiều cuồn cuộn tràn như thác
Thế sự xôn xao ngợp muộn phiền

Ta mơ về phía bên kia mãi
Mong cuộc tương phùng (dẫu phút giây)
-hương tóc thôi miên
-làn tóc ngọc
-kề vai sao rụng
-rót thơ đầy

Nhưng ta đã biết:
-là vô vọng
Người vẫn nặng nguyền hương khói xưa
Nên biển mãi dạt dào con sóng
Nên tình ta đẫm mấy trang thơ

Xin hẹn cùng ta ở chốn nào
-bên ngoài vũ trụ
-giấc chiêm bao
-tinh cầu xa lạ
-nơi mù mịt
Để được bình yên yêu mến nhau

Ta sẽ ung dung lánh cõi trần
Thoát vòng hệ luỵ kiếp trầm luân
Đợi người cho đến ngàn năm nữa
Điểm hẹn sau cùng: đỉnh tuyết vân.

Bài thơ trên đây là một bức tranh, vẽ hai người thương yêu nhau, nhưng ở hai nơi, bên nầy và bên kia bờ Đại Dương trùng trùng sóng vỗ theo nhịp đời đổi thay. Một người (tác giả?) mong được trùng phùng trong vô vọng giữa chốn mịt mù và sau cùng, đành hẹn với người yêu ở một khung trời khác, một giấc chiêm bao, hay chốn trăng sao nào đó …và coi đó  “Điểm Hẹn Sau Cùng” mà thi nhân gọi đó là đỉnh tuyết vân.

          Dòng thơ của Dương Quân xuyên qua “Chập Chờ Cơn Mê”,  “Trên Đỉnh Nhớ” và “Điểm Hẹn Sau Cùng” là một dòng suối trong xanh ngập tràn tình cảm mượt mà của một tiếng than dài chứa nhiều u uẩn về tình nhà nợ nước, buồn nhiều hơn vui, với những vần điệu nhẹ nhàng thanh thoát. Tôi xin trích ra đây một số vần thơ lục bát tiêu biểu hầu quí đồng hương thưởng lãm.

          Hình như từ buổi phong trần
Thơ ta đã chở bao lần ủ ê
Chập chùng nhiều nẻo sơn khê
Người rằng: cánh nhạn không về nữa đâu.
…..
Ta quên tất cả trên đời
Mà sao không thể quê người mến yêu
Ta ngồi đếm tuổi quạnh hiu
Nhớ, Quên … biết mầy lần gieo bẽ bàng
                                         (Nhớ & Quên)

          Bậu về điểm lại má hồng
          Rẽ đường ngôi lệch, thắt vòng lưng thon
          Qua đi ngàn dặm nước non
Cánh chim ai biết mất còn, Bậu ơi!
….
Có ai thương bậu, ngỏ lời
Bậu ưng đi!-kẻo cuộc đời tàn phai
Chừng nào mây trắng còn bay
Qua còn nhớ bậu những ngày… xa xưa
                               (Nhắn Lại Người Thương)

Mưa chan tội, phúc đầy vơi
Giọt vào tìm thức, giọt rơi vũng sầu
Giọt nào rửa sạch cơn đau
Giọt nào hoá đá ngàn sau vĩnh hằng?

Cuộn tròn nỗi nhớ trong chăn
Gởi em thơ viết mấy hàng trong mưa
Ví dầu mưa tạnh hay chưa
Cội tình cũng đã xác xơ nhánh buồn             
                               (Thơ Viết Trong Mưa)

Ta đang quét lá cửa Thiền
Lượm câu lục bát lòng miên man buồn
Bỗng dưng ta muốn về Nguồn
Hỏi trăng tiền sử Càn Khôn mấy tầng?
….
Hoang đường từ thuở ban sơ
Vì câu lục bát tình cờ lãng du?
                               (Lục Bát Lãng Du)

Kể từ lục bát ly tan
Đôi bờ xa cách võ vàng nỗi đau
Ta xin sáu chữ gối đầu
Phần em câu tám chờ nhau một đời

Hết rồi một kiếp rong chơi
Chút tình còn đọng trong lời thơ ta
                               (Kề Từ Lục Bát)

Em đi vương nắng thu buồn
Phương nầy nỗi nhớ niềm thương chập chùng
Gió thu man mác se lòng
Hắt hiu quyện nỗi hoài mong em về
….
Mình ta ngày đợi đêm chờ
Vòng tay hờ hững, ngẩn ngơ mộng tình
…..
Em tìm trong xác lá vàng
Xác ta lịm chết muộn màng đêm qua.
                                         (Thu Sầu)

Hình như nắng mới vừa sang
Chợt lay giấc ngủ muộn màng cuối đông
Dường như nắng rớt ngoài song
Chờ em tô điểm má hồng du xuân.
….
Em về vẽ thắm môi son
Quên ngày mưa gió mỏi mòn tuyết sương

Ta về gom nắng soi gương
Thấy ê chề những nẻo đường thế nhân
Vô tình đánh mất thanh xuân
Gặp em cứ ngỡ chập chờn chiêm bao
                                         (Đợi Nắng)

Vì đâu ngơ ngẩn những chiều
Vì đâu giá lạnh, buồn thiu sợi buồn
….
Hỏi người?- nay đã cố nhân
Hỏi quê hương? –Đã chung thân lạc loài
Trời làm trái đất vần xoay
Muộn phiền là của trần ai cõi người.

Hoa buồn trổ nụ đơn côi
Cho người trái đắng, cho đời xót xa
Lạnh lùng? Ta tự hỏi ta
Hay là nhớ nắng hay là nhớ ai?
                                         (Gọi Nắng)

Ta về nửa tỉnh nửa say
Gom từng sợi nắng chất đầy chiêm bao
Nhớ người tắm nắng hôm nào
Xiêm y sương khói, xôn xao núi rừng

Ôi thôi! Em đẹp quá chừng
Nắng mê man bỗng mấy từng đảo điên
                                         (Tắm Nắng)

Mời nhau một chén rượu đầy
Long lanh mắt ngọc, men say ý nồng
Rượu vào, thơ bỗng bâng khuâng
Bài ca tái ngộ gieo vần véo von

Lá hoa rực rỡ Sài Môn
Xui lòng thi khách chập chờn giấc xuân
                                         (Trở Lại Sài Môn)

Cầu mong bạn được ấm êm
Chở mưa bên ấy về nghiêng bên nầy
Tình si là biển đoạ đày
Nhớ thương là mộng chất đầy trang thơ

Biết ai hứa hẹn mà chờ
Như mưa chiều vẫn mịt mờ không gian
….
Nhạt nhoà lịm tắt hoàng hôn
Hỏi người có lạnh những cơn mưa chiều?
                                         (Chiều Mưa)



Đối với tôi, thơ Lục Bát của Dương Quân chừng ấy là tuyệt, còn biết bao bài lục bát thật hay nữa trong ba tập thơ nói trên, nhưng tôi đành hẹn một dịp khác. Và sau đây tôi xin đáp lễ với Dương Quân bằng hai bài thơ, gọi là chút tình tri ngộ.

                     Thân tặng Dương Quân
                    
Giữa “Chập Chờn Cơn Mê
Tình tràn “Trên Đỉnh Nhớ
Em ơi! Ta chới với…
Buông “Điểm Hẹn Sau Cùng

Trời đã ngả hoàng hôn
Biển xa - Bờ cát trắng
Ta - Một mình thơ thẩn
Giữa bóng tối vây quanh.

Muốn trải một tâm tình
Chẳng biết ai bày tỏ!
Ta nghe như trong gió
Có giọng nói thì thầm

Phải tiếng của em chăng?!
Thỏ thẻ lời thương nhớ
Em ơi! Ta bỡ ngỡ
Lắng  nghe trọn  nỗi lòng…

Đang lan toả mùi hương
Của loài hoa trăm sắc
Em ơi! Ta lật đật
Đón nhận mảnh tình rơi

Thân xác ta rã rời
Giữa tâm hồn bão loạn
Chân tay ta lạng quạng
Giấc ngủ chẳng bình thường

Ta mơ tưởng em luôn
Với nỗi niềm nhung nhớ
Ta giật mình… tỉnh lại
Chỉ là giấc mê thôi!
                     (TN-, ngày 24-10-2010)




                     Thân tặng Dương Quân, người tri kỷ,
                  biết nhau ở tuổi tàn niên.
Trời chiều…bóng ngả hoàng hôn
Chút tình tri kỷ trong hồn nở hoa


Tiếc không gặp bốn mươi năm trước
Để cùng nhau dấn bước đấu tranh
Cùng nhau lên thác xuống ghềnh
Cùng nhau chống đỡ lằn tên đạn thù

Cùng kê súng giữa trời gối mộng
Cùng thêu hoa dệt gấm cơ đồ
Cùng nhau bảo vệ Tự Do
Cùng nhau san sẻ nỗi đau sơn hà

Nay, đất khách… biết nhau quá muộn
Tuổi đã già lỡ chuyện nước non
Nhìn xa bao lớp sóng cồn
Tiếc thân bé mọn bên đường tồn vong

Đã mất sạch chỉ còn cây bút
Nét mực tươi với chút lực tàn
Nguyện lòng kể chuyện giang sơn
Cho con cháu biết tủi hờn gia vong

Những tham vọng của quân Trung Quốc
Chiếm Hoàng Sa lấn đất Việt Nam
Nam Quan, Bản Giốc chẳng còn
Trường Sa cũng sẽ mất dần nay mai

Tôi với bạn tuy hai mà một
Cùng hướng về Tổ Quốc Việt Nam
Mong cho đất nước vẹn toàn
Tự do hạnh phúc dân tình ấm no.
                               (TN-ngày 25-10-2010)

                                                                                   Nguyễn Kim Lộc
                                                                                   (Chicago, ngày 27-10-2010)



Thứ Tư, 21 tháng 10, 2015

MÃI NHỚ BIÊN HÒA

                                                     Người đi mãi nhớ Biên Hoà
                                                 Nhớ tôm Bến Gỗ nhớ trà Tam An.

Có dịp đọc những bài thơ, bài văn viết về ‘Quê Hương’, ta mới thấy quê hương ai cũng đẹp, dù một làng quê hẻo lánh xa xôi hay ở môt tỉnh thành hoa lệ, nơi nào cũng có nét đẹp riêng hoặc nhân tạo hoặc thiên tạo, dễ thắm nhập lòng người và trở thành những kỷ niệm khó quên. Ai cũng hãnh diện về quê hương của mình và luôn thương nhớ mỗi khi xa cách.
Quê hương là một đề tài dễ gây xúc cảm và gợi hứng cho những  tâm hồn nghệ sĩ,  khiến họ dễ vẽ nên tranh, đặt thành thơ, viết nên nhạc.
 Từ màu sắc và chất liệu thiên nhiên người ta vẽ nên những bức tranh, những mái nhà đơn sơ quyện khói lam chiều, hoặc những bức tranh tả một dòng sông với những con đò đang đợi khách…
 Từ thực tế người ta đặt thành thơ , những lời thơ êm ả ngọt ngào…
 ‘Quê hương là chùm khế ngọt. Cho tôi trèo hái mỗi ngày…Quê hương là đường đi học. Tôi về rợp bướm vàng bay. Quê hương là con diều biếc. Tuổi thơ tôi thả trên đồng. Quê hương là con đò nhỏ. Êm đềm uống nước ven sông …Quê hương nếu ai không nhớ. Sẽ không lớn nổi thành người’(1).
‘Có bao giờ em hỏi quê hương mình ở đâu. Có bao giờ em hỏi tháng mấy trời mưa ngâu…Mùi hương nào gợi nhớ, vườn trăng thoảng hương cau… Bây giờ em đã biết. Em đã chết từ lâu’(2).
Từ thực tế người ta  viết nên nhạc, những điệu nhạc êm dịu, ru hồn về tận đâu đâu…
‘Quê hương tôi có con sông đào xinh xắn… Trời về khuya vẳng tiếng sáo đê mê…’(3)
‘Làng tôi luôn luôn vương vài đám khói, những mái tranh buồn nhớ người… Quê cũ đã nghèo lắm rồi, thêm đói thêm sầu mà thôi. Nằm mơ mơ thấy trăm họ tốt tươi, mơ thấy bên lề cuộc đời. Áo dài đùa trong nắng cười’.(4)

Tình quê hương thấm vào lòng người, chảy theo dòng sông, vươn lên đỉnh núi, lan tràn trên bờ sông ngọn cỏ, len trong truyền thống giống nòi, thoang thoảng trong mùi khoai nướng, toát ra từ những câu ca dao ‘Đi đâu cũng nhớ quê nhà - Nhớ canh rau muống nhớ ca dầm tương’…`Ôi quê hương vẫn đẹp nghìn đời’.
Xem tranh, đọc thơ và nghe nhạc về quê hương, lòng tôi nhớ Biên Hoà vô hạn. Bao hình ảnh quê hương hiện đến xáo trộn trong lòng tôi: trường tiểu học tỉnh lỵ Nguyễn Du ngày nào với một cây phượng vĩ duy nhất phía trước văn phòng ông Đốc Học Hồ văn Tam khoảng năm 1949-50, cùng bao gương mặt thân thương của các vị thầy cũ  lần lượt hiện về trong tâm trí tôi như một cuốn phim, khởi đầu thầy Nguyễn văn Nên (dạy tôi lớp Năm), thầy Thú (dạy tôi lớp Tư), thầy Hưng (dạy tôi lớp Ba), thầy Đổ Cao Khoẻ (dạy tôi lớp Nhì), thầy Phạm văn Tiếng (dạy tôi lớp Nhất), thầy Nguyễn văn Thuyế (dạy thể dục) thầy Mẫn (dạy vẽ), ông cựu Đốc Học Lê Hữu Vĩnh dạy Hán Văn, thầy Nguyễn Văn Tỵ dạy nhạc, cùng những vị thầy khác tuy không trực tiếp dạy tôi nhưng tôi vẫn một lòng kính trọng như thầy Trình, thầy Phách, thầy Chinh, thầy Dợt, thầy Bổ, thầy Lô, cô Rời, cô Hữu, cô Giếng…cùng một số bạn bè như Đổ Hữu Cảnh, Đổ Công Trường, Đổ Tấn Sĩ, Đổ Khoa Luật, Đổ Cao Phước, Đổ Cao Thọ, Lý quí Chung. Nguyễn văn Long, Tạ Lý Báng…Giờ nầy thì hầu hết các thầy cô đã lần lượt đi về thiên cổ, người mà tôi có dịp đốt nén nhang đưa tiễn lần sau cùng trước khi tôi rời Việt Nam để đi Mỹ là thầy Phạm văn Tiếng (thân phụ của hai trung tá KQ/VNCH Phạm kim Ngôn và Phạm kim Lân), thầy dạy tôi lớp Nhất, biết rỏ gia đình tôi, thương tôi nghèo mà hiếu học, thỉnh thoảng thầy gọi tôi vào nhà, thầy dạy bảo thêm và cho tôi nhiều sách đọc, phần nhiều là sách của tác giả Alphonse Daudet và Anatone France… và một quyển Les Grands Coeurs của Edmond De Amicis. Thật là những kỹ niệm nhớ đời. Riêng bạn bè thì kẻ còn người mất, phần đông đã đền nợ nước. Số bạn vừa kể là bạn thời còn học Tiểu Học, lớp Năm, lớp Tư, rồi sau đó mỗi người được phân ra, học khác lớp, cho đến khi lên Trung Học lại càng xa cách nhau hơn, rồi vào đời, mỗi người mỗi nghề nghiệp, binh nghiệp khác nhau, rày đây mai đó rồi mất hẳn liên lạc. Tôi chắc các bạn tôi không còn nhớ hoặc hình dung ra tôi là ai, ngoại trừ một số bè bạn tôi còn có dịp giữ được liên lạc.
Và những hình ảnh kế tiếp vẫn là…
-Con sông Đồng Nai bắt nguồn từ Lang Biang, qua vùng thác Tri An, chảy ngang qua  khu phố chợ Biên Hoà rồi chia thành hai nhánh, một nhánh qua cầu Rạch Cát, một nhánh qua Cầu Gành bao quanh Cù Lao Hiệp Hoà để rồi gặp lại nhau, xuôi dòng về Gia Định. Chao ôi ! một dòng sông đẹp, một dòng sông tôi thường ra tắm, nhất là vào những mùa hè, tôi lội ra đến giữa sông, khoảng trước đình Tân Lân hướng về phía cầu Mới, khoảng nầy có một cồn cát, dân trong làng thường gọi là Cồn Gáo, bề dài chừng trên ba mươi thước, bề ngang chừng mười thước, có một gia đình duy nhất, đó là gia đình của bà Tám Nuôi Heo, chuyên sống nghề gánh nước mướn tại chợ cá Biên Hoà và nuôi heo nái. Cồn gáo khó trồng dừa nầy nay đã chẳng còn, đã tan biến dần dần theo bàn tay của những người thợ lặn chuyên sống nghề lấy cát bán cho những nhà thầu xây cất nhà khắp miền Nam. Các nhà thầu cũng như những người tự xây cất nhà rất ưa chuộng Gạch, Đá, Cát của Biên Hoà.
-Núi Châu Thới (thuộc xã Hoá An) và núi Bửu Long ( thuộc xã Tân Thành/ Biên Hoà), trên đỉnh đều có chùa, hai địa điểm thu hút không ít người Sài Gòn và cả người dân Biên Hoà vào những ngày cuối tuần hoặc những ngày lễ lớn. Họ đến đó để chiêm ngưỡng những cảnh trí thiên nhiên cho thư giãn tình thần, sau những ngày làm việc vất vả, bon chen vì cuộc sống, hoặc họ đốt một nén hương lễ Phật, hoặc sám hối một điều gì hoặc chơi thuyền đạp nước trong hồ Long Ẩn để cho tâm hồn được thanh thản.
-Trường Mỹ Nghệ  gần công trường Sông Phố Biên Hoà, nơi du khách ngoại quốc thường đến thăm viếng và thưởng thức nghệ thuật Gốm Việt Nam tại Biên Hoà và những Lò Gốm, thiết lập rải rác bên kia sông Đồng Nai thuộc xã Hoá An và xã Tân Vạn (Đức Tu- Biên Hoà trước đây) chuyên sản xuất hàng gốm mỹ thuật.
-Những quán ăn tại xã Bửu Hoà nổi tiếng với các món đặc sản bánh canh đầu cá lóc hấp, gỏi tôm càng, cháo lòng và dồi lòng heo với hương vị đặc biệt, nếu ai có dịp thưởng thức rồi sẽ nhớ mãi đến lần sau, ngoài ra còn một số quán ăn khác mà mỗi quán nổi tiếng một món, thường gọi là món chủ lực, quán Tân Hiệp nổi tiếng về món bánh canh đầu cá hấp, quán Tuyết Hồng nổi tiếng gà quây xôi chiên phòng( tròn như trái banh đá), quán Bình Minh nổi tiếng  cá trê nướng cuốn cải bẹ xanh, nhà hàng La Plage nổi tiếng cá cơm lăn bột chiên, nhà hàng Hạnh Phước nổi tiếng món càng cua bọc tôm chiên và món chân vịt rút xương xào hột điều, dành cho dân nhậu, quán Sáu Mồng nổi tiếng rượu tiết dê, tiết chim sẻ và cary gà, quán ông Tư Giử nổi tiếng duy nhất món cary dê và nước chấm đặc biệt, cà tím pha chế xào theo phương thức gia truyền, quán bà Bảy Anh tại chợ Biên Hoà chỉ bán độc nhất món cháo trắng với các món mặn ăn kèm rất bình dân như dưa mắm, tép chiên mặn, trứng vịt muối, khô lốc chấy mặn, cá trê kho khô… một quán cháo bình dân nổi tiếng, rất đông khách và quán lộ thiên, không tên, chỉ bày bán về đêm, nhưng được khách giang hồ tứ chiếng thường gán cho cái tên là quán Cháo Khuya hoặc quán cháo Nửa Đêm Về Sáng.
-Những gian hàng trái cây được dựng dài theo lề Xa lộ Biên Hoà –Sài gòn, bày bán chôm chôm Phú Hội, sầu riêng Long Thành, mít tố nữ vùng Nhơn Trạch và nhiều loại bưởi, đặc biệt là bưởi ổi Tân Triều…
-Những vườn bưởi chạy dọc dài theo hai bên bờ sông Đông Nai,  chao ơi đẹp ! nhiều thương buôn từ phương xa đến đặt mua cả vườn vào những tháng cận Tết …
-Còn nhiều thật nhiều thứ, không sao kể hết trong một hai trang giấy… mỗi cảnh vật đã trở thành kỷ niệm, theo cách tả của một nhà văn Pháp Anatone France là mỗi viên đá có một cái tên, mỗi cái cây có một linh hồn, những thứ đó thắt chặt với hồn tôi bằng một thứ tình quyến luyến sâu xa (Chaque pière a un nom - Chaque arbre a une âme-  Qui s’attachent à mon âme avec force d’aimer) hay ‘ Tôi nhớ mãi làng tôi nhớ mãi- Nơi sống qua những tuổi ấu thơ ( Je me souvien de mon village – Òu j’ai vécu les premiers ans..) hay viết theo Edmond De Amicis trong quyển Grands Coeurs (được Hà Mai Anh dịch ra với tựa Tâm Hồn Cao Thượng) ở đoạn một người đi du lịch nơi xa về, ngồi trên boong tàu, nhìn về phía xa xa thấy hình ảnh quê hương tôi hiện ra, tự nhiên mắt trào lệ cảm. Ta mới thấy chẳng nơi nào hơn quê hương ta, vì thiếu ‘chất’ tình quyến luyến nhớ thương, thiếu những kỷ niệm đầu đời, thiếu một thời vang bóng…. Có nhiều người đi du lịch khắp năm châu, đến Pháp viếng tháp Eiffel, đến Ai Cập viếng Kim Tự Tháp, qua Trung Quốc đặt chân lên Vạn Lý Trường Thành…họ thấy tận mắt và hết lời khen. quả là những kỳ công tuyệt mỹ, đáng khâm phục. khi trở về họ tha hồ kể cho bạn bè nghe, rồi một thời gian sau những hình ảnh nầy lại chìm vào quên lãng, vì các kỳ quan trên có vĩ đại thật nhưng đối với họ không có hồn, không có tình… không bằng một dòng sông quê mẹ bên lở bên bồi, có cô lái đò một nắng hai sương…, nắng quê mẹ đẹp, trăng quê mẹ nên thơ…Cái gì có liên quan đến quê mẹ, nơi chôn nhao cắt rốn, có liên hệ đến tập tục cổ truyền, văn hoá dân tộc đều đẹp cả

Tôi rất yêu quê hương Biên Hoà, xứ Bưởi của tôi, nhưng chế độ Cộng sản quá khắc khe, kỳ thị, phân biệt đối xử trong mọi hoàn cảnh, kiểm soát tôi cũng như hầu hết những người phục vụ trong chế độ cũ một cách nghiêm khắc từ trong trại tù cho đến ra ngoài xã hội. Là kẻ chiến bại, tôi đành chấp nhận thôi, nhưng trong lòng tôi không bao giờ ngừng suy nghĩ tìm một hướng thoát thân ra khỏi nước. Rất may, nhờ những người Việt Nam chạy thoát trước ngày 30-4-75 và các tổ chức Quốc Tế tranh đấu, nhất là chánh quyền Mỹ tận tình can thiệp, chương trình H.O. được hình thành. Tôi và gia đình được sang định cư tại Hoa Kỳ theo số thứ tự H.O. 6 vào ngày 05-04-1991. Khi đến nước Mỹ, tuổi tôi cũng đã năm mươi lăm rồi, nói già thì chưa hẳn đã già, nhưng dứt khoát là không còn được xếp ở hàng trung niên nữa, rất khó tìm việc làm, nhưng rồi mọi việc cũng êm xuôi, trời sanh voi sanh cỏ. Riêng các con tôi ở vào cái tuổi cũng lỡ làng việc học, nên quyết định bung ra đi xin việc làm. Coi các con tôi không thành công trong việc học, có nghĩa là không vươn tới địa vị kỹ sư hay bác sĩ, nhưng cũng có công việc làm mười mấy năm qua và đã có dịp mua được một ngôi nhà. Đại gia đình dâu, rể, con, cháu sống chung, quanh quẩn với nhau rất hài hoà, rất hạnh phúc trong tinh thần tri túc tiện túc, không se sua, không bon chen, hơn mười năm rồi mà vẫn chưa bỏ ‘tật’ mua các loại hàng hoặc thức ăn theo dịp có giá ‘On Sale’ và luôn giữ bản chất khiêm tốn và cần cù của người Việt Nam.
Trên đây là tôi kể những cái mà nhiều người biết, còn biết bao cái gọi là riêng tư, chỉ mình tôi biết, đã trở thành những kỷ niệm khó quên trong đời tôi, như  làn sóng lăn tăn trên mặt sông Đồng gợi tôi nhớ hủ tro hài cốt của thân phụ tôi được đập ra và thả theo dòng sông theo lời trăn trối.., đồi cây Bạch Đàn ở Tam Hiệp nơi có nấm mồ, mẹ tôi yên nghỉ giấc nghìn thu hoặc một ánh mắt, một nụ cười, một bàn chân qua ngõ vắng một chiều mưa mà một thuở làm lòng tôi xao xuyến…, những hình ảnh ấy đã mấy chục năm rồi, vẫn còn đọng mãi trong hồn tôi. Tôi đã hứa với lòng sẽ có một ngày tôi trở lại quê hương, dù chỉ là một nắm tro tàn.

                                                                        Nguyễn Kim Lộc
                                                               (Chicago, ngày 21-4-05)

Ghi chú: (1) thơ của Giáp văn Thạch, (2) thơ và nhạc của Trần Chí Phúc, (3), (4) nhạc của Phạm Duy.



Thứ Hai, 19 tháng 10, 2015

VÀI NÉT VỀ THƠ DƯƠNG QUÂN

VÀI NÉT VỀ THƠ DƯƠNG QUÂN

Năm nay, sau khi hướng dẫn đội bóng Người Việt tại Chicago (IL) đi tranh giải tứ hùng tại San José (CA) nhân ngày lễ Lao động ngày 6-9-2010, trở về, tôi hân hạnh nhận được ba tập thơ của thi sĩ Dương Quân ở Tampa (Florida), gởi tặng, qua sự giới thiệu và trung gian địa chỉ của nhà thơ Hoàng Ánh Nguyệt ở San José (California). Tôi thật sự vô cùng ngạc nhiên, khi đón nhận món quà nầy…  
1- CHẬP CHỜN CƠN MÊ, xuất bản năm 2004 và tái bản 6 lần
2- ĐIỂM HẸN SAU CÙNG, xuất bản năm 2007  
3-TRÊN ĐỈNH NHỚ, xuất bản năm 2010

Tất cả các tập thơ không đề giá bán, chỉ có câu “Dành tặng thân hữu”. Tôi rất vui mừng được trở thành một “thân hữu” mặc dầu chưa một lần hạnh ngộ với Dương Quân. Tôi vội vã gửi điện thư cám ơn tác giả và Hoàng Ánh Nguyệt.

Tôi đọc bài “Thay Lời Tựa” và càng vui mừng hơn, khi biết được Dương Quân là người nguyên quán Biên Hoà, từng phục vụ cho chế độ VNCH ở chức vị công chức cao cấp, từng bị đi tù cải tạo nhiều năm và qua định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO vào năm 1993…

 Tôi được biết thêm khi còn là học sinh trường Pétrus Ký –Sài gòn, Dương Quân chọn ban C và rất yêu thích văn chương. Dương Quân bắt đầu làm thơ và gia nhập thi văn đoàn “Văn Nghệ Đôi Mươi”, thuở toàn dân miền Nam đang sống trong cảnh thanh bình.

 Thơ của Dương Quân bắt đầu được nhiều người biết đến, kể từ khi bài thơ “Về Bến Mộng” của Dương Quân được đăng trong tập thơ của thi văn đoàn VNĐM và trên báo Văn Nghệ Tiền Phong năm 1960. Một bài thơ viết từ tuổi học trò, diễn tả tâm trạng của một người ‘ nửa kiếp phong sương đời dậy sóng’, mong mõi thuyền đỗ bến mộng, mở tiệc tẩy trần…..xoá nhoà quá khứ đầy gió bụi tang thương …

Hãy đỗ lại thuyền ơi trên bến mộng
Cất chèo khua tan vỡ cả bờ trăng
Đã nửa kiếp phong yên đời dậy sóng
Trở về đây yến tiệc ngắm cung Hằng
Tôi chuốc chén lưu ly người nhắp thử
Tiệc tẩy trần uống nốt cặn bi ai
Buồn chi nữa mộng mơ đời gió bụi
Đời tang tương thế sự ngập u hoài
….
Hãy đổ lại thuyền ơi trên bến mộng
Để lùi về ảo giác sống hoang mang
Trôi nổi lắm thuyền xưa đà dậy sóng
Bến đò trăng đà mấy độ hoang tàn.                           
(Về Bến Mộng)

Và từ sau đó, Dương Quân có dịp làm quen với nhà văn Hoài Diệp Tử (giữ mục Thơ trên báo Tiếng Chuông) và thi sĩ Kiên Giang Hà Huy Hà (tác giả bài thơ nổi tiếng “Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím” được Huỳnh Anh phổ nhạc và đã trở thành bất tử) trong trường hợp hiếm hoi, gặp ở “Lều Thơ” của Kiên Giang, trong cuối một con hẽm ở Sài Gòn. Dương Quân rất mến mộ Kiên Giang và rất tâm đắc 4 câu thơ của Nguyễn Bính, được Kiên Giang ghi trên vách “Lều Thơ”…       
“Từ độ về đây sống rất nghèo
          Bạn bè chỉ có gió trăng theo
Những thằng bất nghĩa xin đừng đến
Hãy để lều ta xanh sắc rêu”

 Năm 1967, Kiên Giang cho đăng trên báo Điện Tín bài “Hương Tình Cà Mau” của Dương Quân, đồng thời, cho giao cho ban Mây Tần diễn ngâm bài thơ nầy trên đài phát thanh Sài gòn. Thơ của Dương Quân bay bổng và được nhiều người biết đến nhiều hơn. Một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt liên đoạn, dài sáu mươi bốn câu, diễn tả một chàng trai trẻ, vừa mới ra trường QGHC, hành trang rời đô thị, đến nhận việc ở tỉnh An Xuyên với tâm trạng lưu luyến Sài Gòn phồn hoa, rộn rịp và một thoáng lo âu, vì chưa đoán được tương lai sự nghiệp của mình nơi vùng đất mới sẽ như thế nào… nhưng khi đặt chân lên miền cuối Việt, chàng trai trẻ nhận thấy cảnh sông nước hữu tình và cô gái miền sông Hậu cũng rất dễ thương, có đôi mắt đẹp, cổ tay tròn, môi cười nụ, biết nhóm bếp, biết lo phụng dưỡng cha mẹ già, và đặc biệt là ‘vẹn sắt son’; tóm lại, ngoài sắc đẹp, cô gái có đầy đủ bốn đức tính công ngôn dung hạnh…. Thế là chàng trai bắt đầu ngâm câu thơ “Cà Mau đi dễ khó về”, mau mau mua quà biếu song thân và sẵn sàng trao cho ‘em’ trọn quả tim hồng.

 Thuở ấy một lần xa phố cũ
Tôi rời phố thị đến An Xuyên
Chân trời cuối Việt xa thăm thẳm
Không có người thân chẳng bạn hiền
….
Tôi đến An Xuyên lòng khắc khoải
Những trưa gà gáy gọi hoàng hôn
Những chiều gió biển đùn mây xám
Gợi tiếng sầu dâng tận đáy hồn
….
Dẫu thế, Cà Mau không phụ khách
Có rừng, cũng có đất phù sa
Cầu tre, nước chảy, cô nghiêng nón
Tình gái An Xuyên vẫn đậm đà
….
Mỗi lần tan chợ ghe xuôi nước
Áo trắng em về khuất cuối sông
Tôi tự hỏi lòng sao chẳng gửi
Cho em trọn cả trái tim hồng
…..
Từ đó tôi yêu miền cuối Việt
Yêu đôi mắt đẹp, cổ tay tròn
Áo bà ba trắng, môi cười nụ
Yêu gái Cà Mau vẹn sắt son
                               (Hương Tình Cà Màu)


Dương Quân cũng như bao người trai thế hệ, cố gắng học hành để phục vụ cho chế độ VNCH, dự phần bảo vệ Miền Nam tự do. Dương Quân đã từng học Đại Học Văn Khoa, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Cao Học Chính Trị Kinh Doanh Sài Gòn. Dương Quân được bổ nhiệm đi làm Phó Quận Trưởng ở một cái quận xa xôi nào đó thuộc tỉnh An Xuyên và lần lượt sau đó, giữ nhiều chức vị quan trọng khác: Chủ Sự phòng trong Phủ Tổng Thống, Công Cán Ủy Viên Bộ Văn Hoá Giáo Dục Thanh Niên, phụ trách báo chí, ngoại vụ, và từng là Giảng viên các trường Cao Đẳng và Đại Học Sài Gòn…

Chiến tranh tại miền Nam càng ngày càng gia tăng, Dương Quân bận nhiều công tác, nên tạm gác chuyện làm thơ viết văn qua một bên, tuy nhiên, khi có vài phút giây rỗi rãnh Dương Quân vẫn không quên đến với nàng thơ để gửi gắm nỗi lòng trong những hoàn cảnh éo le, việc nhà, việc nước…nhờ thế, Dương Quân có được trên một trăm bài thơ hay, đủ thể loại với một văn phong khoáng đạt

 Đọc các tập thơ trên, tôi nhận thấy Dương Quân là người giàu tình cảm, yêu thích văn chương, thương mến bạn bè, nhất là đối với những đồng môn Học Viện QGHC; luôn ý thức trách nhiệm của một viên chức cao cấp của chế độ VNCH, nhận thức giá trị của sự tự do, dân chủ, trên dải đất miền Nam Việt Nam, đang bị hoạ xâm lăng của Cộng Sản đe dọa. Dương Quân luôn canh cánh bên lòng nỗi lo âu tình nhà và nợ nước. Tôi xin lược trích một số câu thơ tiêu biểu dưới đây, để các bạn thưởng lãm và hiểu qua một phần nào nỗi lòng của Dương Quân.

Những vần thơ ý thức trách nhiệm

-Ừ nhỉ!
Bọn mình thời tuổi trẻ
Khí căng buồng phổi, sức căng vai
Vá trời lấp biển mang hoài bão
Vì nước vì dân luyện chí, tài.
….
Ai có ngờ đâu, ra vận nước
Bỗng nhiên trời đất nổi cuồng phong
Bỗng nhiên chính nghĩa thành tro bụi
Tang tóc bao trùm khắp núi sông.

Này bạn!
Rót thêm đầy chén nữa
(Trả vay như uống rượu đầy vơi)
Bao giờ sỏi đá thành châu ngọc
Ta gọi rong rêu hoá kiếp người
Ta gọi mùa xuân quay trở lại
Nắng hồng sưởi ấm khắp nhân gian
Cho phường gian ác thôi cuồng mộng
Xua hãi hùng đi dẫu muộn màng
…                       (Gặp Bạn Tâm Tình)

Nay chung thân lạc loài trên đất khách
Lòng xót xa quê cũ cảnh điêu tàn
Ta căm ghét kẻ gian tà bịp bợm
Hận bạo quyền dày xéo mảnh giang sơn…
Xin hãy cho ta nói lời trăn trối:
Ta vẫn tin nhân nghĩa thắng hung tàn
Kẻ gian ác sẽ có ngày sám hối
Hạnh phúc sẽ về với MẸ VIỆT NAM
                                        
Những vần thơ tình cảm gia đình
Hôm nay mây xám sao nhiều quá
Giăng phủ không gian, ngập đất trời
Người đến báo tin buồn vội vã
Quê nhà - chị đã trút tàn hơi!

Chị vào bịnh viện hôm tuần trước
Tiều tuỵ thân gầy, khoé mắt sâu
Khi rước Chị về khăn trắng phủ…
Thôi rồi! dáng liễu chị còn đâu ?
….
Nhớ xưa cứ mỗi lần em bệnh
Chị vội về thăm với gói quà
Sờ trán, xem chừng em sốt lắm
Em vờ bệnh mãi, Chị đừng xa

Thế nào em cũng về quê cũ
Thăm xứ Đồng Nai, nhớ quặn lòng
Thăm chợ Long Thành, cây trái ngọt
Chỗ Chị ngồi bán bưởi – Còn không?

Thế nào em cũng về thăm Chị
Nấm mộ vườn sau - Chỗ Chị nằm
Thắp nén trầm hương - em khấn nguyện
Ngậm ngùi: Vĩnh biệt Chị ngàn năm
                                         (Thư Cuối Cùng)

Thương nhớ gởi về quê Mỹ- Hội
Dòng đời thắm thoát bấy nhiêu năm
Bao mùa mưa nắng bao thay đổi
Mà bóng người đi vẫn bặt tăm.

Thuở xưa Mỹ-Hội êm đềm quá
Cây trái sum suê đủ bốn mùa
Phước Lý về ngang thành Tuy Hạ
Nhà em ở dưới rặng cau thưa

Ngày ấy anh về thăm Mỹ Hội
Qua phà Cát lái ghé Long Tân
Tìm em trưa nắng tan phiên chợ
Thăm mẹ thăm em đã mấy lần
….
Mỗi bận trở về thăm xóm cũ
Ra vườn gom hái lá trầu vàng
Trầu cau chung gánh chung duyên nợ
Đủ nghĩa cho tình ta chứa chan
Gặp nhau rồi lại xa nhau nữa
Căn dặn đừng quên sớm trở về
Em đứng bờ sông Cát Lái
Nhìn theo như níu bóng người đi
….
Anh về lần ấy hay lần cuối
Ngồi kế bên em xếp liễn trầu
Chợt thấy bàn tay gầy guộc quá
Lần đầu xao xuyến nụ hôn nhau.

Rồi buổi quê hương tàn cuộc chiến
Anh xa thành phố, sống trên rừng
Mười năm dày dạn cùng sương gió
Ai hẹn ngày về giữa gió sương?

Mỹ Hội cũng từng thay cảnh sống
Chợ phiên cần gạo chẳng cần trầu
Cau khô, trầu héo, buồng trong thúng
Vườn cũ thưa dần những bóng cau.

Em có khi nào qua Cát Lái
Bến phà đứng đợi một bên bờ
Nước sông cuồn cuộn xuôi dòng nhớ
Nhửng mảng lục bình theo sóng đưa?

Những mảng lục bình trong nước xoáy
Không về trở lại bến sông xưa
Dòng đời xô dạt anh xa mãi
Mà bóng người thương chẳng nhạt mờ.

Biết có ai về quê Mỹ Hội
Nhắn dùm người cũ mấy lời thăm
Giờ thân viễn xứ còn trôi nổi
Xin hiểu lòng nhau - tạ lỗi lầm.
                               (Gánh Trầu Mỹ Hội)


Những vần thơ trong tù cải tạo
Từ buổi xa nhà đi cải tạo
Xuân nầy thắm thoát đã ba xuân
Vì chưng mất nước nên tù tội
Giam hãm đời trai giữa núi rừng
….
Cố vui vì phải cố tìm quên
Cố nén tâm tư, dấu nỗi niềm
Uất nghẹn tiếng lòng đang thổn thức
(Nén làm sao được tiếng con tim?)
….
Em hỡi! Miền Nam em có vui?
Có đi chợ Tết mấy hôm rồi?
Có mua áo mới, quà cho trẻ?
Có thấy Xuân sang vắng một người?
                       (Đêm giao thừa trong trại cải tạo Quảng Ninh)


Những vần thắm đượm tình yêu
Năm tháng đời vui vẫn trọn tình
Đêm về dưới bóng ngọn đèn xanh
Chồng cô ngồi đọc thơ –cô chép
Hai quả tim vàng, một mái tranh
                               (Cô Giáo Nhỏ)

Đừng tưởng xa rồi quên dễ đâu
Nghìn sau chưa chắc sẽ vơi sầu
Những chiều ray rức vào tâm khảm
Khóc vụng mỗi lần nhớ đến nhau
                               (Lời Tạ Từ/ 1963)

Tôi đến bên em lặng lẽ buồn
Đắm tình yêu tự chiếc môi non
“-Sao em không nhặt màu hoa trắng
“Ủ lấy cho tình ta sắt son!”

Em bảo: Hoa trinh, nghĩa cuộc đời
Lần nầy hoa rạn vỡ - anh ơi!
Nhặt đi ép sát bờ môi nóng
Anh hãy vì hoa, tiếc một người!”
….
Phiêu bạt chiều qua trở lại đây
Nhà em lặng lẽ cửa then gài
Trước sân lả chả ngàn hoa rụng
Hoa trắng? bây giờ sao mỉa mai!
                               (Hoa Trắng)

Bậu về điểm lại má hồng
Rẽ đường ngôi lệch, thắt vòng lưng thon
Qua đi ngàn dặm nước non
Cánh chim ai biết mất còn. Bậu ơi!

Quê hương nhớ - nhớ đứng nhớ ngồi
Nhớ con đò nhỏ, nhớ người sang sông
Đồng Nai nước chảy xuôi dòng
Qua đành mãn kiếp lưu vong xứ người

Có ai thương bậu ngỏ lời
Bậu ưng đi! - kẻo cuộc đời tàn phai
Chừng nào mây trắng còn bay
Qua còn nhớ bậu những ngày xa xưa.
                               (Nhắn Lại Người Thương)


 Thơ của Dương Quân rất sống thực, chữ nghĩa đơn sơ, ý thơ dung dị, chân chất khiến người đọc, dễ lãnh hội trọn vẹn ý câu thơ và cảm nhận được những gì ông muốn diễn tả hoặc gửi gắm, với trọn niềm xúc cảm chân thành.
                 Dương Quân bắt đầu làm thơ từ khi còn là học sinh trường Pétrus Ký Sài Gòn và trải qua thời gian làm công chức, lúc đi tù cải tạo và những ngày sống trong khung trời viễn xứ, tha phương… Bạn bè của Dương Quân nhận xét Dương Quân có khiếu về thơ văn nhưng Dương Quân lúc nào cũng phủ nhận rằng ông không “chuyên nghiệp” và xin mọi người đừng bao giờ gọi ông là thi sĩ. Tính khiêm nhường luôn luôn là một tánh tốt, nhưng sự tự đánh giá thường không bao giờ chính xác. Hãy để cho người thưởng lãm, khách quan nhân xét, thì có lẽ đúng hơn….
                 Phạm Thành Châu, bạn đồng môn QGHC cũng là bạn tù sau 1975, nhận xét: “Thơ Dương Quân quả nhiên được bạn bè đón nhận với nhiều thích thú. Các bạn gọi nhau, khen “Chập Chờn Cơn Mê” hay lắm…..Tập thơ trước đã hay, tập thơ nầy càng thâm thuý hơn”
                 GS Nguyễn Thanh Liêm nhận xét: “Tập thơ “Chập Chờn Cơn Mê” ra đời, và tôi có dịp thưởng thức một tác phẩm độc đáo. Độc đáo vì nó nói lên tâm tư của một con người, nó là tâm tư của Dương Quân”
                 GS Nguyễn Văn Tương (Tiến Sĩ, Pháp) nhận xét: “Anh là một trong những tâm hồn đầy nhiệt quyết đó, lại có biệt tài diễn tả những suy tư của mình qua những bài thơ đẹp, đầy đủ ý nghĩa, khiến cho độc giả dễ nhận chân tâm hồn thi sĩ của Anh”
                 Trần Kiêu Bạc (ĐS17/-nhà thơ, California) nhận xét: “Thơ lục bát dễ mà khó hay. Thế mà anh có những bài gây nhiều “ấn tượng” như Điệp khúc Nắng Mới, chợ Huyện Miền Trung, Tháng Giêng…”
                 Lý Ngọc Chương (ĐS14-Úc) nói lên cảm nghĩ: “Tôi đã khóc khi đọc tập thơ của bạn và đang chảy nước mắt khi viết những dòng nầy….”
                 Bùi Thị Kim Dung (Orlando-FL,quả phụ Đinh Công Đắc, ĐS14, Cố GS) nhận xét: “ Quyển sách gồm nhiều bài thơ quá hay và rất thắm thía. Tôi nghĩ anh đã tự mình thắp đuốc mà đi trong đêm tối”
                 Vũ Quang Dũng (ĐS10-CH3-Úc) nhận xét: “Bài thơ “Đêm Giao Thừa Trong trại Cải Tạo Quảng Ninh” trong tập thơ của bạn rất cảm động”
                 Nguyễn Ngọc Dũ (ĐS10-CHI,CA) nhận xét: “Tập thơ đầy tình cảm, đọc rất xúc động và thấy thơ rất trử tình, đầy nhân tính”
                 Đỗ Xuân Trúc (Xuân Đỗ, ĐS10, CH3, OK) nhận xét: Tôi đã đọc tập thơ trong xúc động bang hoàng…Chữ nghĩa giản dị nhưng đầy đủ súc tích của anh được diễn đạt dưới một giai đoạn lịch sử đau thương sau tháng 4/75 tại Việt nam. Đọc thơ anh, tôi có cảm tưởng như đọc một bi trường tiểu thuyết sống động…”
                 Vũ Công Hùng (ĐS14-CH6-CO) nhận xét: An hem ĐS14 rất hãnh diện có anh là người đầu tiên phát hành thi tập. Thú thật với anh, tôi đã khóc khi đọc bài “Lời Cuối” của anh viết về cháu An Xuyên…”
                 Trương An Ninh (Hoài Việt, ĐS14-CA) nhận xét: “Thơ của Dương Quân cũng “đạt” rồi đáy. Mình cũng tình cờ xem các bài thơ trong những tờ báo khác, các bạn tù gốc quân đội đã nhắc đến tên D.Q”
                 Nguyễn Tấn Phát (Nguyên Trần, ĐS11-Canada) nhận xét: “ Thú thật tôi đã “mê” anh từ lúc đọc bài “Đêm Giao Thừa Trong Trại Cải Tạo Quảng Ninh” của anh đăng trên Đặc San Hành Chánh Miền Đông. Bài thơ thật nhẹ nhàng thong cảm, đọc xong lòng thấy xúc động rưng rưng….”
                 Hàn Thiên Lương (nhà thơ, ĐS7.OR) nhận xét: “Ngay bài thơ đầu tiên “Về Bền Mộng” đọc xong tôi “PHÊ” ngay. Ôi tuyệt diệu! Nhìn xuống cuối bài thơ thấy làm từ năm 1960. Trời đất ơi! Gần nữa thế kỷ rồi! Ôi chao! Chắc tại Dương Quân bận rộn trên đường hoạn lộ, đau buồn trên cõi phù sinh, vất vưởng nơi chốn ngục tù. Đó là điều tôi lấy làm tiếc, nếu không trong chốn văn đàn, Dương Quân cũng ngang ngửa với Vương Đức Lệ, Tô Thuỳ Yên, Mai Trung Tĩnh…”
                 Quách Đại thành (ĐS15, OR) nhận xét: “Đọc những bài thơ anh sang tác từ những năm 60, tôi rất thích thú và ngạc nhiên. Thơ của anh có âm điệu của thơ của Nguyễn Đình Toàn, rất dễ thương, nhẹ nhàng, không cầu kỳ. Những vần thơ là những xúc động thật sự, tôi đọc 3, 4 lần.”
                 Lưu Văn Trang (ĐS9-CA) nhận xét: “Nhận tập thơ anh gửi tặng, mới đọc được vài bài…hay lắm. Không ngờ nhà thơ lại người ở Biên Hoà. Tôi làm việc ở Biên hoà 10 năm cho tới ngày mất nước, đi tù rồi vượt biên 1984…”
                 Giáo sư Dương Ngọc Sum (CA) nhận xét: “Năm nay (2005), thầy đã ngoài 70 tuổi rồi, mà vẫn còn đi làm. Té ra, em đồng hương Biên Hoà với thầy. Thầy thích thơ em văn chương bình dị, dễ hiểu, dễ đọc. Thầy không thích những lời văn lập dị, đọc lên không ai hiểu gì cả”
                 Còn khoảng trên năm mươi người nữa, phần đông là văn nhân, thi sĩ hoặc các giáo sư và các bạn đồng môn của Dương Quân trình bày rải rác trong ba tập thơ nói trên, bằng những lời nhận xét rất chân thật: “Dương Quân làm thơ rất dễ, chữ nghĩa đơn sơ, không cầu kỳ, không gọt giũa…..với nguồn thi hứng dồi dào….”
                 Riêng tôi nhận xét về Dương Quân: “câu thơ nào cũng hay, lời thơ nào cũng có ý nghĩa, kết thành một chuỗi đan thanh, chứa chan tình cảm, ngập tràn hương sắc … phản ảnh từng góc cạnh cuộc đời của Dương Quân, theo những thăng trầm của đất nước, cũng như trong tình yêu, với những lời thơ dung dị, nhẹ nhàng, bình dân, dễ hiểu như thơ của Nguyễn Bính và Kiên Giang, dễ gây xúc cảm lòng người. Tôi rất cảm phục Dương Quân và sau khi đọc ba tập thơ trên đây, tôi viết đôi vần gởi tặng Dương Quân gọi là chút quà tri ngộ người cùng xứ sở Biên hoà.

Kính tặng thi sĩ Dương Quân, tác giả ba tập thơ
        Điểm Hẹn Sau Cùng, Chập Chơn Cơn Mế và Trên Đỉnh Nhớ

Gặp nhau - “Điểm Hẹn Sau Cùng
Chút duyên văn nghệ cùng chung đất trời
Lê chân xứ lạ quê người
Bâng khuâng đếm những nỗi đời tha phương

Cảm thông cùng một nỗi lòng
Thương dân, yêu nước “Chập chờn Cơn Mê
Tình “Trên Đỉnh Nhớ” đong đầy
Lưu vong vẫn hẹn một ngày phùng sinh

Những vần thơ của Dương Quân
Lung linh âm hưởng mấy ngàn nước mây
Niềm riêng dằng dặc tháng ngày
Tình nhà nợ nước cuồng say lưng trời

Mái đầu trắng điểm sương rơi
Vẫn còn thao thức những lời hẹn xưa
                              



ĐỌC THƠ DƯƠNG QUÂN
                 
Hôm nay, có dịp đọc Dương Quân
Dù muộn – niềm vui - thoả một lần
Bút pháp tinh vi lời gãy gọn
Câu thơ điêu luyện ý cân phân
Tình nhà trang trải từng cung bậc
Nợ nước cưu mang mấy điệu vần
Giữ tấm lòng son cùng tuế nguyệt
Sắc mầu riêng rẽ của Dương Quân
                 
                                                                        Nguyễn Kim Lộc
                                                                          (Chicago, ngày 10-10-10)